Trong Ngày Lễ Ngũ Tuần

AI NHẬN ÂN TỨ NÓI TIẾNG LẠ ?

Tinh Thần

LTS: Tinh thần xin trình bày một quan niệm mới và chắc chắn sẽ gây ra sự tranh luận. Nhận thấy quan điểm của tiến sĩ Geisler được đặt trên căn bản lý luận vững vàng nên chúng tôi lượt dịch và trình bày như là một tiếng chuông để các con dân Chúa đọc và suy ngẫm. Chúng tôi hoan nghinh những ý kiến của độc giả về quan niệm thần học mới mẻ này.

Vài hàng về tác giả Norman Geisler: Ông nguyên là viện trưởng viện Thần học Southern Evangelical Seminary tại Charlotte, NC. Ông là tác giả của hơn 60 quyển sách và hàng trăm bài viết. Ông được mời diển thuyết hay tranh luận nhiều nơi tại quốc nội và quốc ngoại. Ông tốt nghiệp Cử nhân và Cao học tại Wheaton College và Th.B. tại William Tyndale College và Tiến sĩ tại Loyola University ở Chicago.

 

Tiến sĩ Norman Geisler, tác giả bộ sách HỆ THỐNG THẦN HỌC ( Systematic Theology, Mineapolis, MN. Bethany House 2004) đã dùng sự phân tích Kinh Thánh để kết luận rằng chỉ có 12 sứ đồ nhận ân tứ nói tiếng lạ trong ngày Lễ Ngủ Tuần mà thôi. ( Appendix 1, Vol. 4, trang 662).

Trong khi hầu hết những người đọc và hiểu Kinh Thánh thường cho rằng trong ngày lễ Ngũ Tuần, tất cả 120 môn đồ hiện diện trên phòng cao đều được “đầy dẫy Đức Thánh Linh , khởi sự nói các thứ tiếng khác, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói” ( CV 2:4). Tuy nhiên , theo tiến sĩ N. Geisler, dựa vào những chứng cớ của Kinh Thánh, ân tứ nói tiếng khác được giới hạn cho các Sứ đồ của Chúa Jesus mà thôi. Trong những dấu lạ dành riêng cho một sứ đồ ( 2 Cô-rinh-tô 12:12) như là làm kẻ chết sống lại ( Ma-thi-ơ 10:8) và nói thứ tiếng khác được xem là một dấu ân tứ ( 1Cô-rinh-tô 14:22).

Tiến sĩ Geisler viết :
Trong ngày lễ Ngũ Tuần, ân tứ nói tiếng khác(hay tiếng lạ) chỉ xảy ra cho 12 sứ đồ (apostles) chớ không phải cho tất cả các môn đồ (disciples) .

Sau đây là những chứng cớ.

  1. Trước nhất, chỉ có các sứ đồ được Chúa Jesus hứa trước lễ Ngũ Tuần rằng: “ trong ít ngày, các ngươi sẽ chịu phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh” ( CV 1:5). “Các ngươi” trong câu Kinh văn này là chỉ các sứ đồ ( xem câu 1:2). Do đó lời hứa này chỉ dành cho các sứ đồ.
  1. Thứ hai, trong câu Công Vụ 2:1, chữ “môn đồ” trong bản dịch tiếng Việt Nam mà các bản tiếng Anh dịch từ bản tiếng Hy-lạp là “they” (họ, những người đó, ). “Họ” trong câu này chính là 12 sứ đồ đã được viết trong câu trước là Công vụ 1: 26. Nên nhớ, Kinh Thánh bắt đầu được chia ra từng chương vào năm 1227 do Tổng Giám Mục Stephen Langton và Giám mục Hugo de Sansto Caro và bắt đầu được đánh số từng câu vào năm 1551 do ông Robert Stephanus
  1. Thứ ba, trong câu Công vụ 2:3 và 2:6  bản tiếng Việt tiếp tục dùng chữ “ các môn đồ’ nhưng trong các bản tiếng Anh đều dùng chữ “they” hoặc “them” cũng để chỉ các sứ đồ.
  2. Thứ tư, câu 2:7 ghi rằng những người Giu-đa ngạc nhiên hỏi nhau rằng “Hết thảy những người nói đó, há chẳng phải là người Ga-li-lê sao?”. Điều này chứng tỏ những người đang nói tiếng khác là những người xứ Ga-li-lê.  Trong số 120 môn đồ có nhiều người thuộc Giê-ru-sa-lem hoặc là người Giu-đa. Trong khi đó, các sứ đồ của Chúa Jesus là những người Ga-li-lê,
  3. Thứ năm, để trả lời cho lời nhạo báng rằng họ say rượu, trong câu 2:14, Phi-e-rơ, đứng lên cùng 11 sứ đồ cất tiếng nói với đám đông. Nhóm chữ “ Phi-e-rơ và 11 sứ đồ” gián tiếp xác nhận 12 sứ đồ bị nhạo báng vì họ nhận ân tứ nói tiếng khác.
  4. Thứ sáu, theo Gleason Archer (1916-2004), một chuyên gia về ngôn ngữ Kinh Thánh thì dân trong 15 địa danh liệt kê trong Công vụ 2:9-11 có thể chỉ sử dụng  tối đa là 12 thứ tiếng vì có vài địa danh nói cùng thứ tiếng với nhau. Như vậy có thể mỗi sứ đồ nói một thứ tiếng cho đám đông này nghe. Dù cho có hơn 12 thứ tiếng thì trong các sứ đồ có thể có người nói nhiều hơn một thư tiếng.
  5. Thứ bảy, vì nói tiếng khác là một trong những dấu hiệu dành riêng cho các sứ đồ (1Cô-rinh-tô 14:22 ; 2 Cô-rinh-tô 12:12) nên Chúa ban ân tứ này cho các sứ đồ là điều tự nhiên.
  6. Thứ tám, sau này ai nhận ân tứ của Thánh Linh hay ân tứ nói tiếng khác, trong Hội thánh đầu tiên đều phải qua một trong 12 sứ đồ. ( Công vụ 8, 10, 19) Công vụ 8:18 cho biết các sứ đồ đặt tay lên ai thì người đó có Thánh Linh.
  7. Thứ chín, những ân tứ siêu nhiên nàyban cho trong Hội thánh đầu tiên bởi các sứ đồnhư Phao-lô nói với Ti-mô-thê về những ơn ban cho qua sự đặt tay của ông ( 2 Ti-mô-thê 1:6)
  8. Thứ mười, từ khi Hội Thánh được dựng lên trên nền tảng của các sứ đồ mà Chúa Jesus là đá góc nhà (Ê-phê-sô 2:20), các sứ đồ đã dùng các quyền năng đặc biệt để truyền đạt những ân tứ siêu nhiêu cho các lãnh đạo của Hội Thánh mà họ lập nên. Vì thế các thành viên của Hội Thánh đầu tiên có ân tứ nói tiếng khác qua sự truyền đạt của các sứ đồ.
  9. Mười một, sau cùng, chỉ có vài sứ đồ có ân tứ nói tiếng khác ( 1 Cô-rinh-tô 12:10). Phao-lô nhấn mạnh rằng : “ Có phải cà thảy các sứ đồ đều nói tiếng khác không?” ( 1 Cô-rinh-tô 12: 29-30) và câu trả lời đương nhiên là không.

Sau khi đưa ra những chứng cớ và lời giải thích trên, Tiến sĩ Geisler kết luận  rằng ông biết điều khám phá này sẽ gây ra sự tranh luận.

Ông cho rằng  nếu hiện tượng nói tiếng khác là ân tứ chỉ dành riêng cho các sứ đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần và chỉ sứ đồ mới ban ân tứ này cho người khác thì điều này xác nhận cái tính chất tạm thời của ân tứ này trên nền tảng của Hội thánh là các sứ đồ. Ngày nào đó ân tứ nói tiếng khác này sẽ hết khi các sứ đồ thấy không cần đến. ( 1 Cô-rinh-tô 13:8) .

 

NEXT

 


World Wide view of ting and trong
Secure SFTP and FTPS provided by FREE GoFTP Client