Thần Học Thánh Kinh Căn Bản

 

 

Ðối chiếu với một số vũ trụ quan phổ thông giữa vòng người Việt Nam

Ðức Chúa Trời

(Mạc Khải Phổ Quát về Ðức Chúa Trời)

 

                                                   Mục sư Trần Ðào

     Ðối với người Việt Nam từ cổ xưa, tổ tiên chúng ta đã biết có Ông Trời, những câu ca dao tục ngữ trong kho tàng văn chương truyền khẩu của chúng ta nói rõ điều này. Tuy nhiên mỗi người có thể có một ý niệm về Ông Trời khác nhau, không ai hoàn toàn giống ai cả. Theo thời gian khi các đạo Lão, Khổng từ Trung Hoa và Phật từ Ấn Ðộ đến, ý niệm về Ông Trời cũng bị ảnh hưởng không ít, đặc biệt là giữa vòng những nho sĩ. Vì thế trong mười chín thế kỷ qua quan niệm về Ông Trời giữa người bình dân và nho sĩ  thường có phần khác nhau. Từ thế kỷ thứ hai mươi trở lại đây xã hội chúng ta lại du nhập thêm nền khoa học thực nghiệm cũng như một số tư tưởng triết học của Tây Phương nên ý niệm về Ông Trời lại được biến đổi thêm nữa. Hiện nay chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi nghe một số người công khai phủ nhận sự hiện hữu của Ðức Chúa Trời. Như thế chúng ta cần xác nhận rằng: Ðức Chúa Trời hiện hữu và loài người chúng ta có thể biết được Ðức Chúa Trời.

 

I. Mạc khải phổ quát về  Ðức Chúa Trời.

Mạc khải phổ quát nói đến sự khải thị về Ðức Chúa Trời qua thiên nhiên, lịch sử và nguyên lý đạo đức trong lòng người, nhờ đó mọi người đều có thể nhận biết một cách sơ đẳng rằng Ðức Chúa Trời hiện hữu, ngài là Ðấng Tạo Hóa và Ngài ban cho con người một số nguyên lý đạo đức để noi theo.

 

Một số người cho rằng tất cả mọi người đều biết  ít nhiều về Ðức Chúa Trời. Người ta cho rằng tri thức về Ðức ChúaTrời là một điều tự tại (innate); điều này có nghĩa là tâm trí chúng ta đã được tạo nên để tiếp nhận một số điều mà tự nó là sự thật, không cần bằng chứng hay giáo dục.

 

 Một số người khác cho rằng con người có thể biết về Ðức Chúa Trời nhờ suy luận. Con người thấy nhiều sự kiện trong vũ trụ và chung quanh chúng ta nên biết rằng nó đã được thiết kế. Chúng ta thấy nhiều sự việc mà chính nó là hậu quả do nhiều hay một nguyên nhân nào đó gây ra vì thế người ta có thể suy luận rằng nguyên nhân tối hậu là Ðức Chúa Trời.

 

Ðiều khác nhau quan trọng là Cơ Ðốc nhân tin rằng Ðức Chúa Trời chính là Ðấng khải thị cho nhân loại biết về Ngài chứ không phải con người tìm kiếm Ðức Chúa Trời. Nhà  thần học Cải Chánh Calvin : “ Tôi không nói đến loại tri thức mà con người đã tự mình đánh mất và bị rủa sả, để hiểu Ðức Chúa Trời như là Ðấng Cứu Chuộc trong Ðấng Thiên Nhiệm  (Christ), Ðấng Trung Bảo; nhưng tôi chỉ nói đến tri thức nguyên sơ và đơn thuần mà chính trật tự thiên nhiên hướng dẫn chúng ta đạt đến nếu A-đam vẫn còn đứng vững.”  Con người tự mình không có khả năng tìm kiếm và biết Ðức Chúa Trời nếu Ngài không mạc khải cho. Ða số Cơ Ðốc nhân tin rằng con người có thể biết rằng Ðức Chúa Trời hiện hữu, là Ðấng Tạo Hóa cùng một vài đặc tính căn bản như quyền năng, vinh quang nhờ mạc khải phổ quát.  Ðiều đặc biệt chúng ta nên biết rằng câu đầu tiên và sách đầu tiên trong Kinh Thánh không chứng minh sự hiện hữu của Ðức Chúa Trời nhưng mặc nhiên công nhận rằng Ngài hiện hữu:

“Ban đầu Ðức Chúa Trời sáng tạo trời đất.” Sáng 1:1

Ðối với những người Cơ Ðốc thờ phượng Ðức Chúa Trời và tin Kinh Thánh là Lời mạc khải của Ðức Chúa Trời, ý niệm về Ðức Chúa Trời được rút ra từ Kinh Thánh. Nhưng chính Kinh Thánh cũng cho thấy Ðức Chúa Trời đã mạc khải Ngài cho nhân loại qua thiên nhiên. Vì thế chúng ta sẽ thảo luận đến mạc khải phổ quát trước khi thảo luận về mạc khải đặc thù.

 

A. Sự hiểu biết  về Ðức Chúa Trời.

Vấn đề đa số nhân loại nhận thức rằng có một Ðấng Thiêng Liêng, Ðấng Tạo Hóa hiện hữu gần như là một điều tự nhiên và rất phổ quát.

 

 Sự kiện có một số ít người dùng lý luận bài bác sự hiện hữu của Ðức Chúa Trời chính là một bằng chứng xác nhận sự hiện hữu của Ngài; nếu Ðức Chúa Trời không hiện hữu thì cần gì phải lý luận, bài bác.

 

 Kinh Thánh bắt đầu bằng lời tuyên bố: “ Ban đầu, Ðức Chúa Trời sáng tạo trời đất.” Sáng 1:1. Qua câu kinh văn này, trước giả Kinh Thánh mặc nhiên công nhận rằng có một Ðức Chúa Trời hiện hữu trước khi vũ trụ được sáng tạo. Ngài là Ðấng tạo ra vũ trụ vạn vật. Sách Sáng Thế ghi chép lại lịch sử sáng tạo của nhân loại, như thế khi sáng tạo nên con người Ðức Chúa Trời cũng đã khải thị cho loài người  biết về Ngài. Thánh Thi 14:1 và 53:1 cho rằng người có tâm trí bình thường không thể phủ nhận sự hiện hữu của Ðức Chúa Trời: “Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Ðức Chúa Trời.”

 

Kiến thức nguyên sơ về Ðức Chúa Trời đã được khải thị vào tâm trí con người từ nguyên thủy. Những người bạn của Gióp là những người ngoại quốc, nhưng họ đã bày tỏ sự hiểu biết của mình và đối thoại với Gióp về Ðức Chúa Trời. Giáo sư Alister McGrath viết: “Thiên nhiên mang bằng chứng về sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời cũng giống như toà nhà vĩ đại mang bằng chứng thiên tài của người hoạ kiểu nó. Thánh đường St Paul ở Luân Ðôn là một trong những công trình vĩ đại của kiến trúc sư  Sir Christopher Wren (1631-1723)...Không có đài kỷ niệm nào cho Wren trong thánh đường đó, thay vào đó ở trên cánh cửa phía bắc có một hàng chữ khắc: ‘ Nếu bạn muốn tìm một đài kỷ niệm, hãy nhìn chung quanh bạn’ Thiên tài và sự khôn ngoan của vị kiến trúc sư có thể được nhìn thấy qua công trình ông xây cất. Cũng vậy, sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời có thể được nhận ra trong vạn vật Ngài sáng tạo, là bằng chứng của quyền năng và sự khôn ngoan của Ðấng Tạo Hoá.

“Các từng trời loan truyền vinh quang của Ðức Chúa Trời”  Thi 19:1  . 

Các Thánh Thi về thiên nhiên như Thánh Thi 8:1 cho thấy con người có thể biết được sự uy nghiêm, huy hoàng, quyền sáng tạo của Ðức Chúa Trời. “ Vị Vua Cứu Chuộc của Y-sơ-ra-ên là Ðấng Tạo Hoá. Danh Ngài vinh quang trên khắp cả trái đất vì công việc sáng tạo của Ngài. Ðiều huyền diệu là mạc khải về vinh quang của vị Vua Vĩ Ðại là ở nơi sự tự tham dự của Ngài với tạo vật Ngài dựng nên. ”  nhà thần học và giải kinh F. Delitzsch viết : “Ví ý tưỏng chính của Thánh Thi này là bầu trời phản chiếu vinh quang của Ðức Chúa Trời và Ngài cũng đã tôn vinh Ngài trên đất và trong con người.”  Nhà giải kinh Peter Craigie giải thích “Tên của Ðức Chúa Trời và sự uy nghi của Ðức Chúa Trời là đồng nghĩa trong thi phú, vì sự uy nghi của cả ngôi vị lẫn tạo vật của Ðức Chúa Trời được mạc khải cho loài người trong danh thiêng liêng và tất cả những gì nó hàm ý.” 

Thánh Thi 19:1-6 cho thấy con người nhận biết được sự vinh quang, quyền năng sáng tạo vũ trụ của Ðức Chúa Trời. F. Delitzsch giải thích: “ ‘Sứ điệp’ cũng thuộc về thể  văn chải chuốt; ‘sự hiểu biết Ðức Chúa Trời’ đã được đặt vào trong lòng sinh vật, dù không phản ánh, ở đây được gọi là ‘hiểu biết’...Bài diễn văn của bầu trời và cõi không gian, của ngày và đêm không phải là bài diễn văn đọc trong một xó góc nào, nó là bài diễn văn bằng ngôn từ khắp nơi đều nghe và bằng lời nói mà mọi người đều hiểu, một sự mạc khải. Rom 1:19”.  Nhà giãi kinh Peter Graigie viết: “Sự loan truyền về vinh quang dựa trên sự kiện rằng dù chúng là vật vô tri chúng là sản phẩm của tay Ngài và như thêá phản ánh một cách tích cực Ðấng Tạo Hoá.Nhưng sứ điệp của bầu trời và cõi không gian, của ngày và đêm có hai đường: nó ca tụng Ðức Chúa Trời (c.2), và nó cũng nói với loài người như là Ðấng mạc khải về sự hiểu biết, (c.3).  Khi giải nghĩa hai câu đầu của Thánh Thi 19 nhà giải kinh A.A. VanGemeren cũng xác nhận: “Chúng mạc khải ‘sự hiểu biết’ bằng bài diễn văn đặc biệt của chúng. Sự hiểu biết ở đây không những chỉ là sự hiểu biết về Ðức ChúaTrời nhưng cũng là sự hiểu biết đặc biệt, có thể hiểu là sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời được mạc khải qua tạo vật của Ngài.”

Thánh Thi 29 nói đến sự vinh quang, quyền năng uy nghi của Ðức Chúa Trời trên không trung, trên biển cả, sông núi và đồng bằng. Delitzsch cho rằng đây là “sự mạc khải về quyền năng của Ðức Chúa Trời ngay trong tầm tay.” Qua sự hiểu biết này, trước giả Thánh Thi kêu gọi con người hãy thờ phượng Ðức Chúa Trời.

 

Thánh Thi 65:6-13 cho rằng “cả nhân loại sẽ đến cùng Ngài” vì Ngài là Ðức Chúa Trời ban mưa thuận, gió hoà, cung cấp thóc lúa cho loài người.

Trước giả Thánh Thi 104 ca tụng Ðức Chúa Trời là Ðấng vĩ đại, quyền năng, oai nghiêm, vinh quang nhưng cũng là Ðấng yêu thương, ân huệ, Ngài chu cấp thực phẩm cho vạn vật. Học giả VanGemeren giải thích: “Tất cả công trình Ngài sáng tạo bày tỏ vinh quang và sự khôn ngoan của Ðấng Tạo Hoá, vì Ngài vẫn luôn luôn liên hệ với công việc của tay Ngài.” 

Trước giả Thánh Thi 148 kêu gọi cả vũ trụ vạn vật ca tụng Ðức Chúa Trời vì Ngài là Ðấng Tạo Hoá;  Ngài là đấng ban qui luật và điều hành vũ trụ. Trước giả cũng kêu gọi tất cả mọi người ở trên quả địa cầu này hãy ca ngợi Chúa. Như thế qua vũ trụ vạn vật, Ðức Chúa Trời đã mạc khải cho mọi người biết rằng Ngài là Ðấng Tạo Hoá uy nghi và vinh quang, đáng được ca ngợi. Học giả Leslie C. Allen giải thích: “Lý do đủ để ca ngợi nằm ở quyền tể trị đặc thù của Ðức Gia-huê (Jahweh) và sự uy nghi của Ngài được mạc khải qua các cõi địa cầu và không gian.”

Thánh Kinh Tân Ước cũng có cùng một quan niệm, tri thức về Ðức Chúa Trời là điều đã được khải thị trong tâm trí con người. Lu-ca, một trước giả Phúc Âm, không phải là người Do Thái, ghi lại gia phả của Chúa Giê-su cho đến A-đam, con Ðức Chúa Trời. Lu-ca mặc nhiên công  nhận rằng Ðức Chúa Trời là Ðấng sáng tạo nên loài người và không cần giải thích, chứng minh gì cả. Lu-ca ghi chép Phúc Âm Lu-ca và đề tựa gởi cho Thê-ô-phi-lơ, có lẽ là một vị quan La Mã cao cấp, không phải người Do Thái.

 

Sứ đồ Giăng trong phần mở đầu Phúc Âm Giăng đã dùng từ Logos như là một danh hiệu của Chúa Cứu Thế. Từ Logos là từ phổ thông trong triết học Hy Lạp mang nhiều ý nghĩa. Theo Tự Ðiển Thần Học Tân Ước, một trong những ý nghĩa đó là: “Logos là yếu tố cấu thành bản thể của cả vũ trụ và con người, nó là nguyên lý nối kết tạo thành cây cầu và sự khả dĩ có thể hiểu biết giữa người và thế giới và giữa người với người; giữa người và Ðức Chúa Trời và giữa thế giới này và thế giới ở trên.”   Từ Logos cũng được các triết gia Stoics  “đồng hoá với ý niệm về Ðức Chúa Trời.”  Như thế Giăng thừa nhận rằng loài người đã có một ý niệm sơ đẳng về Ðức Chúa Trời dù chỉ là một ý niệm mù mờ và nhiều khi sai lạc. Giăng đã nhận diện, mô tả và giải thích rõ ràng hơn về Ngôi Lời (Logos). Ngôi Lời là một hữu thể hiện hữu từ vĩnh hằng, một ngôi vị riêng biệt, nhưng cũng là Ðức Chúa Trời, là Ðấng sáng tạo vạn vật, là nguồn sống của vạn vật, là ánh sáng thật soi sáng mọi người (Giăng 1:1-5, 9).

Trong thời thành lập các hội thánh đầu tiên, Sứ Ðồ Phao-lô đã kêu gọi dân chúng tại Lít-tra (Một thành phố thuộc Thổ Nhỉ Kỳ ngày nay) hãy trở lại với Ðức Chúa Trời Hằng Sống, Ðấng Tạo Hoá nhân ái. Ðức Chúa Trời đã để lại bằng chứng trong thiên nhiên và người ta có thể nhận thấy được, Công Vụ 14:15-17. 

Trong khi thuyết giảng cho người Hy Lạp tại A-then, Phao-lô đã dựa vào tri thức phổ thông giữa người Hy Lạp về Ðức Chúa Trời để bắt nhịp cầu truyền bá cho họ Phúc Âm cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế. Phao-lô đã trích lời các triết gia Stoics (Công Vụ 17:28). Phao-lô cho rằng dân A-then đã biết Ðức Chúa Trời là Ðấng Tạo Hóa, là Chúa tể của vũ trụ, là đấng đầy đủ, tự do, không lệ thuộc vào gì cả; Ngài là nguồn sự sống, định đoạt thời gian và biên giới cho các dân tộc; Ngài hiện hữu khắp mọi nơi; Ngài là nguồn gốc, là nền tảng của mọi sự sống, Công Vụ 17:24-28. Như thế Phao-lô công nhận rằng người A-then đã biết một số điều sơ đẳng về Ðức Chúa Trời, dù vậy họ vẫn còn “ngu muội” và sai lạc, Công Vụ 17:30.

Trong thơ gởi tín hữu Rô-ma, Phao-lô đã nói rõ hơn về mạc khải phổ quát qua thiên nhiên (Rô-ma 1:18-32). Giải nghĩa câu (18) học giả James Dunn viết: “Dù vậy,..... chúng ta vẫn phải nói đến một “ thần học tự nhiên” ở đây, tức là mạc khải của Ðức Chúa Trời qua vũ trụ cho nhân loại nói chung và nó đã hoạt động từ khi sáng tạo vũ trụ.”  Douglas Moo cũng giải nghĩa: “ Tuy nhiên ở đây, Phao-lô chú trọng đến sự kiện mọi người đều có tri thức về Ðức Chúa Trời qua chính thế giới thiên nhiên.” 

Qua đoạn Kinh Thánh này Phao-lô cho chúng ta biết:

1/ Loài người có thể biết một số điều sơ đẳng về Ðức Chúa Trời vì Ngài mạc khải cho họ qua thiên nhiên. (Câu 19)

2/ Loài người nhận biết rằng Ðức Chúa Trời là Ðấng Tạo Hóa nhờ lý trí nhận thức về các tạo vật, (câu 20). 

3/ Lý trí con người có khả năng nhận biết về thần tính và quyền năng vĩnh cửu của Ðức Chúa Trời, (câu 20).

4/ Dù có thể biết về Ðức Chúa Trời nhưng lý trí và tấm lòng con người là ngu dốt, tối tăm và sai lạc (c. 21,22).

5/ Loài người tự ý áp chế sự thật và khước từ ánh sáng tri thức của Chúa nên không thể tránh được hậu quả khủng khiếp của tội lỗi và không bào chữa được, (c. 20, 27).

Phao-lô cũng dạy cho người Rô-ma biết “những điều kinh luật đòi hỏi đã được ghi trong lòng họ”, tức là dù không có kinh luật của Môi-se bằng chữ viết như ngươì Do Thái nhưng các dân tộc ngoại quốc khác đều có tri thức về điều thiện, ác, điều phải, trái do Ðức Chúa Trời đặt trong lòng họ. Lương tâm cắn rứt trong một người là bằng chứng cho thấy con người có khả năng phán xét về thiện, ác, phải, trái. Dù lương tâm nhiều khi bị ảnh hưởng nặng nề của văn hoá, xã hội nên bị lầm lạc; đôi khi có thể bị chai lì, nhưng nó minh chứng cho một Ðấng Tạo Hoá và Thẩm Phán tối thượng.

Tiến sĩ Demarest đã tóm lược ý niệm về sự hiểu biết Ðức Chúa Trời nơi con người như sau: “Con người, được sáng tạo theo hình ảnh Ðức Chúa Trời và được ân sủng chung thêm khả năng, có thể trực giác (ngay giây phút đầu tiên của tự ý thức tâm trí và đạo đức) những nguyên lý bất biến và vĩnh cửu, gồm cả sự hiện hữu, đức tính và các mạng lệnh đạo đức của Ðức Chúa Trời. Như thế được trang bị bằng tri thức trực giác nguyên sơ về Ðức Chúa Trời, con người nhờ phản ảnh luận lý về những dữ kiện thiên nhiên và lịch sử biết thêm về các đức tính và mục đích của Ðức Chúa Trời. Do ánh sáng khải thị phổ quát, tất cả mọi người đều biết Ðức Chúa Trời như là Ðấng Tạo Hoá, Ðấng bảo tồn và thẩm phán của thế giới. Nhưng vì  tấm lòng đen tối, ý chí ươn ngạnh, con người tự nhiên từ khước trau dồi thêm sự hiểu biết căn bản về Ðức Chúa Trời qua khải thị phổ quát. Thay vào đó, con người đã chà đạp tri thức về Ðức Chúa Trời như là Ðấng Tạo Hóa và thờ phượng các tà thần do mình tạo ra. Như thế cái kiến thức do khải thị phổ quát truyền đạt không cứu rỗi con người nhưng trái lại nó chỉ lên án.”  

 

B. Các quan niệm về sự hiểu biết Ðức Chúa Trời.

    1. Quan niệm Công Giáo.

        Công giáo chủ trương “Thần học tự nhiên” (Natural theology) Tiến sĩ Ludwig Ott trích dẫn giáo lý:

“Thiên Chúa, Ðấng Tạo Hóa và Chúa chúng ta, có thể biết được một cách chắc chắn bằng ánh sáng tự nhiên của lý trí từ các vật thọ tạo.”

Công Ðồng Vatican định nghĩa: “Nếu người nào nói rằng Thiên Chúa duy nhất, chân thật, Ðấng Tạo Hóa và Chúa chúng ta không thể biết được một cách chắc chắn nhờ ánh sáng lý trí của con người do các vật thọ tạo, đáng bị tuyệt thông.”

Tiến sĩ Ott giải thích thêm, Ðịnh nghĩa của Vatican nhấn mạnh đến các điểm sau:

a/ Ðối tượng của sự hiểu biết là một Thiên Chúa thật, Ðấng Tạo Hóa và Chúa chúng ta, vì thế là một Thiên Chúa có thân vị và ngoại tại.

b/ Nguyên lý chủ quan của tri thức là lý trí tự nhiên trong tình trạng của một bản tính sa ngã.

c/ Phương tiện đẫn đến tri thức là các vật thọ tạo.

d/ Tri thức này từ bản chất và cách thức là một tri thức chắc chắn.

e/ Một sự tri thức về Thiên Chúa như thế là điều có thể có được, nhưng không phải là cách duy nhất để biết Ngài.  

 

 Như thế Công giáo chủ trương con người có thể biết Ðức Chúa Trời qua thiên nhiên và lý trí con người ngoài sự khải thị đặc biệt và siêu nhiên qua Chúa Giê-su và qua Kinh Thánh dưới sự soi sáng của ChúaThánh Linh.

 

 Công Ðồng Vatican II trong phần Dogmatic Constitution on Divine Revelation đã xác nhận thần học tự nhiên như sau:

“Công Ðồng e sợ này xác nhận: ‘Thiên Chúa, là đầu tiên và kết thúc của mọi vâät, có thể được biết một cách chắn chắn từ thực tại thọ tạo do ánh sáng của lý trí con người.’(td. Rom 1:20); nhưng Công Ðồng dạy rằng nhờ mạc khải của Ngài “ những thực tại thiêng liêng mà do bản chất lý trí con người có thể đạt đến được đó, có thể được mọi người biết một cách dễ dàng, chắc chắn cụ thể, không có dấu vết sai lầm ngay cả trong tình trạng hiện tại của nhân loại.” 

 

Ðại Tự Ðiển Bách Khoa Công Giáo (Catholic Encyclopedia) giải thích thần học tự nhiên như sau: “Ðây là ngành học cao nhất trong triết học nhằm nghiên cứu và trình bày điều mà lý trí con người, không cần sự trợ giúp của mạc khải, có thể biết về Thiên Chúa. Thần học tự nhiên tương phản với thần học mạc khải.

 

Trong trường phái học thuật kinh viện, thần học tự nhiên được kể như một phần của triết học; đối tượng chính của ngành nghiên cứu này là Thiên Chúa và những gì về Ngài có thể biết được qua công việc của Ngài, qua linh hồn con người, sự tự do của linh hồn, sự bất tử của linh hồn và định luật tự nhiên.( Rom 1:18-32). Theo thánh Phao-lô khả năng này nơi con người để đạt đến sự hiểu biết chân lý tôn giáo được công bố là đang hiện hữu vì chính Thiên Chúa “làm như thế”. Ðiều này được định nghĩa một cách chặt chẽ hơn trong lời viết của Công Ðồng Vatican I (De fide Cath.); theo đó kiến thức này được giải thích như là đến từ sự tuỳ thuộc của con người vào Thiên Chúa, Ðấng Tạo Hóa. (ct. Wis 13:1-9) Tri thức tự nhiên về Thiên Chúa là sự chuẩn bị trước cho sự mạc khải đầy đủ về Thiên Chúa qua Ðấng Ky-tô, tức là lịch sử cứu rỗi được tiến hành qua hội thánh. Ðây là mạc khải đầy đủ của Thiên Chúa về chính Ngài mà con người có thể nhận được do đức tin và tình yêu thương.”  

 

 Như thế Công giáo chủ trương rằng lý trí của con người, dù là con người đã sa ngã, có thể biết về Ðức Chúa Trời mà “không cần sự trợ giúp của mạc khải”. Vậy, Công giáo chủ trương rằng tri thức về Ðức Chúa Trời có thể biết bằng hai cách: lý trí tự nhiên của con người và mạc khải siêu nhiên qua Chúa Cứu Thế. Ðại Tự Ðiển Bách Khoa Công Giáo xác nhận rõ: “Tri thức tự nhiên về Thiên Chúa là sự chuẩn bị trước cho sự mạc khải đầy đủ về Thiên Chúa qua Ðấng Ky-tô.”

 

 Nhà thần học Công Giáo hiện đại Karl Rahner đi xa hơn một chút, ông viết : “Chúng ta muốn gọi thuật ngữ và nguồn gốc của sự siêu việt của chúng ta là “huyền bí thánh” mặc dù thuật ngữ này cần được hiểu một cách sâu xa hơn và từ từ được bày tỏ rằng nó tương đồng với từ “Thiên Chúa” . Tương tự như một số nhà thần học tự do cấp tiến Tin Lành, Karl Rahner chú trọng vào sự hiểu biết Thiên Chúa qua kinh nghiệm trực giác  của con người : “Thuật ngữ siêu việt là Thiên Chúa. Chúng ta trước hết phải mô tả kinh nghiệm và thuật ngữ của kinh nghiệm với nhau trước cái điều được kinh nghiệm và có thể được gọi là Thiên Chúa”.  

 

Một số nhà thần học Phúc Âm Thuần Túy công nhận sự thực hữu khách quan của mạc khải phổ quát qua thiên nhiên nhưng sự mạc khải này bị giới hạn trong tri thức nguyên sơ về sự hiện hữu của Ðức Chúa Trời, Ngài là Ðấng Tạo Hóa, Ðấng Thẩm Phán tối cao và nguyên lý đạo đức nơi con người. Ðiều khác biệt lớn lao giữa Công Giáo và các nhà thần học Tin Lành Phúc Âm Thuần Túy là lý trí của con người dù nhờ mạc khải phổ quát cũng chỉ biết về Ðức Chúa Trời một cách nguyên sơ, giới hạn và sai lầm nữa vì lý trí đó đã bị đen tối, ô nhiễm, lệch lạc vì tội lỗi. Ngoài ra cái tri thức về Ðức Chúa Trời nhờ mạc khải phổ quát không thể dẫn con người đến chỗ hiểu biết đúng, đầy đủ về Ðức Chúa Trời để được cứu rỗi. Phao-lô nói rõ tình trạng này: “Vì họ đã biết Ðức Chúa Trời nhưng không tôn vinh cảm tạ Ngài là Ðức Chúa Trời, trái lại họ suy tưởng những chuyện hư không và lòng dạ ngu dốt của họ ra tăm tối.” Rô 1:21

 

Quan niệm thần học tự nhiên của Công Giáo đưa đến một vài hậu quả tất yếu:

    - Loài người có thể dùng lý trí để biết đúng về Ðức Chúa Trời. Vì loài người có thể biết đúng về Ðức Chúa Trời cho nên một vài nhà thần học Công Giáo đã cho rằng những người Phật giáo và Ấn Ðộ giáo có thể “thiền” để biết Thiên Chúa và những hệ thống tôn giáo thờ Ðức Chúa Trời của họ (ngoại giáo) cũng có thể đúng.

   - Vì loài người đều có thể biết Ðức Chúa Trời mà không cần mạc khải đặc thù, tức là Chúa Cứu Thế, nên dẫn đến quan niệm “sự cứu rỗi phổ quát (universalism)” nghĩa là cuối cùng ai cũng sẽ được cứu cả, là điều hợp lý.

   - Quan niệm thần học tự nhiên đã mở đường và khuyến khích những người chủ trương nhân bản thuần lý trí trong các thế kỷ sau chỉ dựa vào lý trí để biết Ðức Chúa Trời và bài bác ân huệ đặc biệt qua mạc khải đặc thù nơi Chúa Giê-su, Con Một của Ðức Chúa Trời, vì cho rằng không cần thiết.

 

“Trên một phương diện cực đoan khác, nhiều nhà thần học tự do cấp tiến (liberal) quan niệm rằng ánh sáng do mạc khải phổ quát đem lại là đủ cho sự cứu rỗi. Một truyền thống trong quan niệm này chú trọng đến giá trị soi sáng của kinh nghiệm xuất thần trong tôn giáo. Với một vài thay đổi, Schleiermacher, Otto, Tillich và Rahner đều cho rằng linh hồn con người nhờ sự hội ngộ huyền bí và phi kiến thức có thể trong một ý nghĩa cứu rỗi, gặp  Ðức Chúa Trời, Ðại hồn của thế giới.

 

Một truyền thống tự do cấp tiến thứ hai cho rằng lý trí con người dùng các phương pháp khoa học có thể rút ra những chân lý cần cho đời sống. Henry P.Van Dusen, Harold DeWolf và một số người khác lý luận rằng vì trật tự thế giới do Ðức Chúa Trời tạo ra và phản ảnh ý chỉ của Ngài, như thế sự phân tích khoa học về con người và ngoại cảnh sẽ dẫn đến Ðức Chúa Trời ”    

 

            2. Các quan niệm Tin Lành tự do cấp tiến.(Liberal)

Vào thế kỷ 18 và 19  Friedrich Schleiermacher là một trong những nhà thần học Tin Lành tự do cấp tiến chủ trương khuynh hướng lãng mạng (Romanticism). Theo quan niệm này ý thức trực giác tôn giáo có thể đưa con người đến chỗ hoàn toàn tùy thuộc vào tuyệt đối. “Cảm thấy tuyệt đối tùy thuộc và ý thức của bản thể trong liên hệ với Ðức Chúa Trời là một và cùng một sự thể.”    Như thế theo Schleiermacher và những người theo khuynh hướng lãng mạng chủ nghĩa tri thức của con người về Ðức Chúa Trời có thể rút ra từ ý thức tôn giáo nơi người đó.

Một vài nan đề đối với khuynh hướng này:

Khuynh hướng lãng mạng trái với quan niệm của Kinh Thánh mà người theo thần học Phúc Âm Thuần Túy tin tưởng: Mạc khải của Ðức Chúa Trời là những chân lý khách quan, bất biến. Nếu những chân lý tôn giaó tùy thuộc vào ý thức tôn giáo của cá nhân, ý thức đó hoàn toàn chủ quan và như thế nó chỉ là một quan niệm cá nhân, không thể là chân lý khách quan, phổ quát.

 

Khuynh hướng lãng mạng đã đặt ý thức trực giác nơi con người là nền tảng và tiêu chuẩn để xét định chân lý. Ðiều này trái ngược với quan niệm chính thống Phúc Âm thuần tuý cho rằng mạc khải của Ðức Chúa Trời, tức là Kinh Thánh và Chúa Giê-su, mạc khải đặc thù là nền tảng và tiêu chuẩn để xét đoán mọi ý niệm tôn giáo.

 

Hậu quả của khuynh hướng lãng mạng là công nhận đa thần giáo cũng là chân lý.

Một trường phái thần học tự do cấp tiến khác do Ritschl chủ xướng lại cho rằng tôn giáo bao gồm bức màn phức tạp của mối liên hệ đạo đức hiện diện giữa Ðức Chúa Trời, con người và xã hội. Quan niệm này được mệnh danh là “Phán quyết giá trị đạo đức’(Value Judgments). Ritschl cho rằng: “Ðức tính thiện của Ðức Chúa Trời, như là một giả định tổng quát về mọi sự, nằm trong thuộc tính cá biệt của Cha Thiêng Liêng; hay nói một cách khác, chân lý mà Ngài đã mạc khải chính Ngài cho cộng đồng Cơ Ðốc như là tình yêu thương. Không có ý niệm nào khác xứng đáng ngang bằng với ý niệm này để chúng ta phải cân nhắc.”  Ritschl quan niệm rằng ngoài sự phán quyết giá trị đạo đức bằng đức tin không thể có tri thức về Ðức Chúa Trời. Nghĩa là Phái này phủ nhận vấn đề tự tại hay trực giác đưa đến tri thức về Ðức Chúa Trời như những người chủ trương lãn mạng và cũng không chấp nhận phái chủ trương thuần lý trí. Ngoài ra trường phái Ritschl cũng quan niệm sự cứu rỗi chủ yếu là một kinh nghiêïm xãhội. Tri thức về Ðức Chúa Trời theo quan niệm của Ritschl hoàn toàn chủ quan. Loài người biết Ðức Chúa Trời chỉ vì Ngài đáp ứng những nan đề của con người trên thế giới.

 

Ernst Troeltsch  và một số triết gia và thần học gia Tin Lành tự do cấp tiến khác chủ trương “lịch sử tôn giáo”. Theo trường phái này Cơ Ðốc giáo cũng như những tôn giáo khác tiến hoá theo lịch sử, văn hoá và nhân chủng đến hình thức như hiện nay, vì thế Cơ Ðốc giáo cũng chỉ là một trong số nhiều tôn giáo trên thế giới. Mỗi tôn giáo đại diện cho một cách thể hiện của tinh thần tôn giáo; không có tôn giáo nào, kể cả Cơ Ðốc giáo, đại diện cho chân lý tuyệt đối. Những người theo khuynh hướng này hoàn toàn bác bỏ mạc khải thiêng liêng từ Ðức Chúa Trời và không công nhận tính cách siêu nhiên, siêu việt, đặc thù của Cơ Ðốc giáo nhưng đặt Cơ Ðốc giáo vào vị thế tương đối cũng như các tôn giáo khác trên thế giới và trong lịch sử nhân loại.

Hậu quả đương nhiên của khuynh hướng tương đối này là sự suy đồi về những giá trị đạo đức trong xã hội Tây Phương và hội viên của các giáo phái theo chủ trương này tại Âu Châu cũng như Hoa Kỳ cũng sút giảm đáng kể.

 

Qua đến thế kỷ 20 Paul Tillich chủ trương “mạc khải chính yếu” và “mạc khải thứ yếu” thay cho mạc khải phổ quát và đặc thù. Theo Tillich, sự phản ảnh của chính Hữu Thể trong chính sự ý thức của con người về một thực hữu chính yếu siêu việt hơn nguyên lý nhị nguyên chủ thể-khách thể . Như thế con người có thể biết Ðức Chúa Trời qua mạc khải chính yếu, nghĩa là qua kinh nghiệm được nắm lấy bởi “tuyệt đối, vô điều kiện, toàn thể, quan tâm vô cùng.” Paul Tillich giải thích: “ Xuất thần chỉ về một trạng thái của tâm trí ngoại hạng trong ýnghĩa rằng tâm trí vượt qua tình trạng bình thường. Xuất thần không phải hủy bỏ lý trí; nó là trạng thái của tâm trí trong đó lý trí vượt lên trên chính nó, nghĩa là vượt trên cấu trúc chủ thể-khách thể. Vượt lên trên chính no,ù lý trí không phủ nhận chính nó. Lý trí xuất thần vẫn là lý trí; nó không nhận một điều gì không hợp lý hay hay trái với lý luận; điều mà nó không thể làm mà không muốn tự hủy diệt mình- nhưng xuất thần siêu việt hơn điều kiện luận lý hữu hạn, tức là cấu trúc chủ thể-khách thể.”  Paul Tillich cũng tuyên bố: “Trạng thái xuất thần mà trong đó mạc khải xuất hiện không hủy diệt cấu trúc luận lí của tâm trí.”  Tillich cho rằng thiên nhiên là một trong những phương tiện của mạc khải, “Thiên nhiên trong những phần đặc biệt hay thiên nhiên như là một toàn thể có thể là một phương tiện của mạc khải trong một kinh nghiệm xuất thần.” 

 

Paul Tillich cũng cho rằng kinh nghiệm xuất thần trong mạc khải là hợp với khoa học lý luận và cần thiết. “Vì xuất thần hay phép lạ đều không hủy diệt cấu trúc của lý luận nhận thức nên sự phân tích khoa học, sự nghiên cứu tâm lý, vật lý lẫn lịch sử đều có thể thực hiện và là cần thiết.” 

 

Paul Tillich một mặt bênh vực cho thần học, coi nó như là một đồng minh của khoa học; một mặt cho rằng kinh nghiệm xuất thần nơi con người có khả năng biết Ðức Chúa Trời một cách độc lập ngoài mạc khải đặc thù.   

 

            3/ Quan niệm Tin Lành Tân Chính Thống. (Neo-Orthodox)

Karl Barth, một nhà thần học Cải Chánh Thụy Sĩ, chủ trương thần học biện chứng để chống lại quan niệm thần học duy lý và hiện sinh của giới thần học tự do cấp tiến.  Barth triệt để từ khước quan niệm thần học tự nhiên của Công Giáo, ông cho rằng con người chỉ có thể biết Ðức Chúa Trời bởi đức tin nơi Chúa Giê-su, là LỜI nhập thể và nhập thế. Trong phần dẫn nhập của tác phẩm Giáo Lý Hội Thánh (Church Dogmatics) Barth viết: “Tôi coi analogia entis (của Aquinas) như là một điều sáng chế của Kẻ Chống Chúa (Antichrist), và tôi tin rằng vì nó mà người ta không thể trở thành một người Công Giáo được, tất cả những lý do khác để không hành động như thế, đối với tâm trí tôi là một sự thiển cận và tầm thường.” (CD I, 1, tr. xiii) “Thần học tự nhiên là một giáo lý liên hiệp con người với Ðức Chúa trời hiện hữu ngoài mạc khải của Ðức Chúa trời trong Chúa Giê-su Ky-tôn”     

 

“Một chủ đề khác là trọng tâm Cơ Ðốc của LỜI như là nguồn duy nhất để biết Ðức Chúa Trời.”  Karl Barth cho rằng loài người chỉ có thể biết về Ðức Chúa Trời từ Chúa Giê-su, Con Ðức Chúa Trời nhập thế. “Ngoài và không bởi Chúa Giê-su Ky-tôn chúng ta không thể nói gì cả về Ðức Chúa Trời và loài người và sự liên hệ của họ với nhau.”  Karl Barth cho rằng con người tự nhiên không thể hiểu Ðức Chúa Trời được, người ta chỉ có thể biết Ðức Chúa Trời nhờ Ngài tự mạc khải cho con người và con người phải đáp ứng với mạc khải đó bằng đức tin. “Hoạt động đáp ứng lại với mạc khải phải là đức tin; việc công nhận sự tự dâng hiến và tự mạc khải của Ðức Chúa Trời. Chúng ta cần  thấy rằng theo quan điểm của Ðức Chúa Trời tất cả mọi hoạt động của con ngưòi dù là con người tốt nhất cũng đều vô ích, rằng tự chúng ta , chúng ta không ở trong vị thế hiểu được chân lý, hãy để Ðức Chúa Trời là Ðức Chúa Trời và Chúa Tể. Chúng ta cần bác bỏ mọi nỗ lực để tự mình cố gắng hiểu biết chân lý.”  

 

Karl Barth tin tưởng rất mạnh vào mạc khải đặc thù trong Lời hay Chúa Cứu Thế đến độ gạt bỏ cả mạc khải trong Cựu Ước, đặc biệt là các thánh thi thiên nhiên và thiên nhiên mà Phao-lô đã nói đến, Rô-ma 1:18-20

    

    4/ Quan niệm về Ðạo và Tự nhiên của Lão Trang

 

Học giả Ngô Tất Tố cho rằng “các học thuyết của Lão Tử đều ở trong Ðạo.” 

“ Nguyên thủy của trời đất là Ðạo” Ngô Tất Tố đã trích chương 25

‘Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh...’

Chương 1

‘Ðạo khả đạo, phi thường đạo. Danh khả danh, phi thường danh.

Vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu.’

và một số câu khác trong Ðạo Ðức Kinh để rồi kết luận: “Vậy thì Ðạo của Lão Tử là nguyên thủy và toàn thể của vũ trụ. Vạn vật trong vũ trụ đều là trạng thái khác nhau của Ðạo.”  Giải thích chương 42, Ngô Tất Tố cho rằng “Lúc đầu vũ trụ chỉ có Ðạo- tức là nguyên tố của vũ trụ vạn vật...Kế đó Ðạo mới sinh ra bầu khí không hư. Rồi bầu khí không hư mới sinh ra âm và dương. Cuối cùng thì âm dương hợp với bầu khí không hư sinh ra vạn vật.” 

Trích chương 25

‘Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp Ðạo, Ðạo pháp Tự nhiên.’

Ngô Tất Tố cho rằng “Trời của Lão Tử chỉ là một thể đi kèm với Ðạo, vận hành theo luật Tự nhiên, chẳng những không có chí ý, tri thức như người ta tưởng mà cũng không có cả “tính sống” nữa.”

 

Nghiêm Toản cũng cho rằng Ðạo là Tự nhiên. Trong tác phẩm Quốc Văn giải thích Ðạo Ðức Kinh khi giải thích chương 25 ông viết: “Ðạo quay về Tự nhiên nên theo Tự nhiên là hợp lẽ; đủ biết Ðạo không phải là một vật huyền diệu, có ý, có chí, làm chủ nhân ông, tạo nên mọi loài trong vũ trụ, mà chẳng qua là Thực thể của Tự nhiên.”

 

Ông Nguyễn Duy Cần trong Lão Tử Tinh Hoa cũng đồng ý với các tác giả trên cho rằng Ðạo là Tự Nhiên, “Tự Nhiên dùng ở chương 25 và 64 là ám chỉ về Ðạo. “ Ðạo pháp Tự Nhiên”, chữ Tự Nhiên ở đây đồng một nghĩa với Bản Thể của Ðạo, thường gọi là Ðạo Thể.” 

Triết gia Fung Yu Lan trong mục Luật thường của Tự nhiên cho rằng “Trong chương cuối của Trang Tử, ‘Thế Giới’ nói rằng những tư tưởng quan trọng của Lão Tử là Thái Cực, cái Một, Hữu, Vô Vi và Ðạo thường. Cái Một chính là Ðạo” 

Trang Tử trong thiên Ðại Tông Sư, Nam Hoa Kinh (tr. 338, 360)  nói Ðạo là cái lẽ Tự nhiên của trơì đất; Ðạo là nguyên lý tuyệt đối sinh ra vũ trụ vạn vật.

Giáo sư  Wing Tsit Chan, Chinese Philosophy, giải thích “Thuyết tự nhiên trong Trang Tử mạnh đến độ coi học gỉa Demieville là đúng nếu bởi ‘nguyên lý’ tác giả muốn nói đến Tự nhiên. Bất cứ một Ðức Chúa Trời nào có nhân cách hay là đấng hướng dẫn điều động vạn vật đều rõ ràng là không hợp với triết lý của Trang Tử.” 

 

Chúng ta thấy một điểm rõ ràng mà hầu hết các triết gia Trung Hoa lẫn Việt Nam đều xác nhận rằng Ðạo hay Tự nhiên trong lão trang là một nguyên lý phi nhân cách, khác với Ðức Chúa Trời của Kinh Thánh.

Ðiểm kế tiếp là Ðạo, Tự nhiên, Thái cực hay cái Một vừa là nguyên lý sáng tạo vũ trụ cũng vừa là vũ trụ vạn vật hay tự nhiên. Sự phân biệt giữa đấng Tạo Hoá và vật thọ tạo rất mơ hồ trong quan điểm của Lão Trang.

 

Trong khi đó mạc khải Kinh Thánh cho thấy rõ ngay từ đầu Ðấng Tạo Hoá và tạo vật Ngài sáng tạo là hai thực thể khác biệt. 

Ngoài ra Ðức Chúa Trời cũng mạc khải chính Ngài cho nhân loại biết rằng Ngài là một Ðấng tự Hữu Hằng Hữu, đầy quyền năng, có nhân cách, ý chí và tình cảm chứ không phải chỉ là một nguyên lý phi nhân cách và vô tình cảm.

   5/ Người Việt Nam, thiên nhiên và Ông Trời.

Lược qua những phong tục thờ tự tại các nơi thiêng liêng, chúng ta thấy người Việt Nam từ xưa đã sùng bái một số các hiện tượng và nơi thiên nhiên huyền bí. Chùa Diên Ứng tại Bắc Ninh thờ Tứ Pháp (Thần Mây, Mưa, Sấm, Sét); Phủ Bà ở Nam Hà thờ phiến đá; tại nuí Tản Viên có thần nuí Tản Viên; Tại Bắc Lệ có đền Bắc Lệ thờ bà Thượng Ngàn, nữ Thần Nuí; chúng ta có huyền thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh...Nói chung người Việt Nam thời cổ có tín ngưỡng vạn vật hữu linh (Animism) như đại đa số các dân tộc khác trên thế giới.

Tuy nhiên khi lược khảo kho tàng văn chương truyền khẩu dân gian chúng ta thấy người Việt Nam cũng biết đến Ông Trời.

Người Việt cầu khẩn Ông Trời ban mưa thuận gió hoà, ruộng mùa tốt tươi:

“ Lạy Trời mưa xuống,

Lấy nước tôi uống,

Lấy ruộng tôi cày,

Lấy đầy bát cơm...”

“Nhờ Trời mưa thuận gió hoà,

Nào cày nào cấy trẻ già đua nhau.”

Không những tin rằng Ông Trời có quyền ban mưa nắng thuận hoà nhưng người Việt cũng tin rằng Ông Trời chính là Ðấng Tạo Hoá:

“Trời sinh, Trời dưỡng”

“Trời sinh voi, Trời sinh cỏ”.

“Thấy anh hay chữ,

Em hỏi thử đôi lời,

Thuở tạo thiên lập địa,

Ông Trời tròn ai xây?”

Người Việt tin vào Ông Trời là Ðấng thưởng phạt công minh:

“Của Trời, Trời lại lấy đi,

Giương hai mắt ếch làm chi được Trời.”

 “Ở hiền thì lại gặp lành,

Những người nhân đức trời dành phúc cho.”

“Ai bảo Trời không có mắt.”

“Ðèn Trời soi xét”.

“Lưới Trời lồng lộng khó thoát.”

Khi gặp cảnh khó khăn, hoạn nạn, đau khổ người ta kêu “Trời ơi!”.

Người Việt biết về Ông Trời là Ðấng ban phúc lành:

“Biết sự Trời mười đời chẳng khó.”

Người Việt tin vào Ðạo Trời và muốn gìn giữ Ðạo Trời:

“Dù ai nói ngược nói xuôi,

Ta đây vẫn giữa Ðạo Trời khăng khăng.”

Trong Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, ông Nguyễn Ðăng Thục đã trích dẫn một học giả Pháp tại trường Viễn Ðông Bác Cổ nói về ý niệm Trời tại Việt Nam, ông L. Cadiere xác nhận rằng: “Hình như những ý nghĩa chính chúng ta thấy gán cho chữ Trời, thuộc về cái vốn triết học riêng của dân tộc Việt Nam, vì ý niệm Trời đã ăn sâu vào trong tâm hồn nhân dân Việt Nam...Người ta có thể thừa nhận như tôi tưởng, là cái ý nghĩa một đấng toàn năng đã được trau dồi phát triển với ảnh hưởng các tư tưởng Trung Hoa, nhưng ngay từ khởi thủy trong ý thức Việt Nam đã sẵn có mầm mống của ý niệm ấy rối. Bằng chứng như tôi đã nói, là cái ý niệm ấy đã thấm nhuần quá thâm sâu vào tâm hồn Việt Nam và đã biểu hiện quá phổ thông trong ngôn ngữ bình dân để cho người ta có thể nhìn thấy ở đấy chỉ là cống hiến ngoại lai.”  

Ý niệm và tín ngưỡng về Ông Trời của người Việt đã hiện diện từ thời cổ, trước khi các tôn giáo như Khổng giáo, Ðạo giáo từ Trung Hoa truyền xuống hay Phật giáo từ Ấn Ðộ truyền sang. Tác giả Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, ông Nguyễn Lang ghi nhận tín ngưỡng Ông Trời đã hiện diện khi Phật giáo mới truyền sang Việt Nam vào hai thế kỷ đầu tiên sau Công Nguyên: “Trong bối cảnh tín ngưỡng và văn hoá kia, đạo Phật đã được mang vào Việt Nam. Thuyết nhân quả nghiệp báo phù hợp với quan niệm Ông Trời trừng phạt kẻ ác, ban thưởng người lành.”

 Dù sau cả ngàn năm lệ thuộc Trung Hoa và chịu ảnh hưởng sâu xa của nền văn hoá Thích-Khổng-Lão, ý niệm về Ông Trời vẫn tồn tại  và được các triều đại Việt Nam chính thức hoá theo nghi lễ của triều đình Trung Hoa từ thời nhà Hồ. Theo Từ Ðiển Hội Lễ Việt Nam, lễ tế Trời hay Nam Giao được chính thức thành lập từ thời nhà Hồ: “Ở Việt Nam lễ tế Giao bắt đầu từ năm 1403 tại đàn Giao ở Ðồn Sơn (trong khu gần thành nhà Hồ ở Thanh Hoá)...Ðàn Nam Giao đầu thời Lê ở Thăng Long...Nhà Tây Sơn đắp đàn Nam Giao ở nuí Ba Tầng (Huế)...Ðàn Nam Giao thời Nguyễn đắp vào năm 1806 ở làng Dương Xuân phía nam Huế.” 

Như thế nói chung người Việt Nam từ giới bình dân cho đến triều đình vua chúa đều tin đến Ông Trời. Mặc dù theo thời gian ý niệm và tín ngưỡng Trời có phát triển và thay đổi theo ảnh hưởng các tôn giáo từ ngoài đến, nhưng những ý niệm căn bản về Ông Trời như  Ðấng Tạo Hoá, Ðấng quyền năng, Ðấng ban phúc lành, thưởng phạt công minh v.v. vẫn hiện diện một cách rõ rệt và sâu sắc trong tiềm thức dân Việt.  

  

   C. Tổng kết về mạc khải phổ quát.

 

Qua những sư ïkiện trên chúng ta thấy Ðức Chúa Trời đã mạc khải về Ngài cho toàn thể nhân loại nói chung qua vũ trụ vạn vật  (Thi 19:1-6) và tâm trí loài người  (Rô 1: 18-20; 2:15).

Những ý niệm về Ðức Chúa Trời được mạc khải qua vũ trụ và tâm trí con người là những ý niệm nguyên sơ căn bản như Ðức Chúa Trời là Ðấng Tạo Hoá, là quan án tối thượng thưởng phạt công minh, sự uy nghi, vinh quang và quyền năng của Ngài cũng được nhận biết.

Con người cũng nhận biết những nguyên lý đạo đức căn bản, thiện ác, phải trái. Tuy nhiên chúng ta nên chú ý đến hai điều quan trọng:

a. Mạc khải phổ quát không bày tỏ cho loài người những chân lý cứu rỗi.

Những chân lý cứu rỗi được mặc khải qua mạc khải đặc thù, tức là Kinh Thánh (Mạc khải qua ngôn ngữ viết) và Chúa Giê-su (Ngôi Lời nhập thể).

b. Vì bản chất tội lỗi, con người có thể nhận biết Ðức Chúa Trời nhưng từ khước thờ phượng Ðức Chúa Trời chân thật và tự tạo cho mình những tà thần, tin những vật thọ tạo, những điều giả dối, sai lầm.    

 

        D. Thần học thực tiễn.

Tiên tri Ô-sê đã ghi lại lời tuyên bố của Ðức Chúa Trời:

“Dân Ta bị hủy diệt vì thiếu hiểu biết.” Ô-sê 4:6 và “Dân tộc nào thiếu hiểu biết sẽ suy sụp.” Ô-sê 4:14

Như thế hiểu biết Ðức Chúa Trời một cách đúng đắn và chính xác là một vấn đề vô cùng quan trọng; ngoài ra vấn đề giảng dạy và truyền bá Ðức Chúa Trời cho người Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Việt Nam cũng không kém quan trọng. Riêng về phương diện mạc khải phổ quát, không những chúng ta cần hiểu rõ nội dung mạc khải nhưng cũng cần tìm kiếm một số đường lối và phương cách thích hợp để dạy dỗ và truyền bá Ðạo Ðức Chúa Trời cho người Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Việt Nam.

            1/ Ðức Chúa Trời mạc khải phổ quát về chính Ngài cho tất cả nhân loại, trong đó có người Việt Nam chúng ta. Bằng chứng là người Việt từ thứ dân đến vua chúa từ thời cổ xưa đều công nhận, tin và tế (thờ) Trời. Vậy hãy quảng bá và dạy cho mọi người biết Phúc Âm của Chúa Giê-su  là Ðạo Trời; tin Chúa Giê-su là Tin Trời; thờ Chúa Giê-su là thờ Trời.

            2/ Hãy dùng từ ngữ Việt, tư tưởng Việt để truyền bá Ðức Chúa Trời cho người Việt. Tránh dùng từ ngữ ngoại lai. Nếu Chúa đã có thể dùng thiên nhiên (Thi 19), tấm lòng, lương tâm và tư tưởng (Rô 2:15) của người Việt Nam để mạc khải về Ngài cho người Việt chúng ta thì ngôn ngữ Việt và tư tưởng Việt ắt phải có đủ khả năng để hiểu biết, diễn tả và trình bày Ðức Chúa Trời.

Nhà truyền giáo Billy Graham đã mời 10,000 nhà truyền giáo, thần học gia, lãnh đạo hội thánh của trên 200 quốc gia đến dự Ðaị Hội Truyền Giáo Amsterdam năm 2000.

Bản Tuyên Ngôn Amsterdam năm 2000 (Truyền Giáo Thê Giới) mục 7 ghi như sau:

“Bởi huyết của Chiên Con, Ðức Chúa Trời đã mua chuộc các thánh đồ từ mọi bộ tộc, ngôn ngữ, dân tộc và quốc gia. Chúa cứu loài người trong văn hoá của họ. Công cuộc truyền giáo thế giới mong thấy rằng những hội thánh được thiết lập là những hội thánh có rễ ăn sâu trong Chúa Cứu Thế và liên hệ mật thiết với văn hoá của họ. Vì thế, theo gương của Chúa Giê-su và Phao-lô, những người truyền bá Chúa Cứu Thế phải sử dụng sự tự do họ có trong Chúa Cứu Thế để trở nên mọi sự cho mọi người.

 

Ðiều này có nghĩa là chúng ta phải đồng hoá thích đáng với văn hoá, nhưng đồng thời cũng tránh đồng hoá hoàn toàn Phúc Âm với bất cứ một nền văn hoá đặc biệt nào. Vì tất cả loài người đều ở dưới tội lỗi và Kinh Thánh cũng như Chúa Cứu Thế trên nhiều phương diện chống lại với mọi nền văn hoá.

Chúng tôi tuyên hứa rằng chúng tôi sẽ nhậy cảm với văn hoá trong công tác truyền giáo. Chúng tôi sẽ nhắm mục đích truyền bá Chúa Cứu Thế một cách thích hợp với dân tộc mà chúng tôi đang làm chứng cho họ và sẽ bằng mọi cách làm cho nền văn hoá đó phong phú hơn. Hơn thế nữa, là muối và ánh sáng của thế gian, chúng tôi sẽ tìm kiếm cách cải tiến văn hoá bằng những cách thích hợp và phù hợp với những gía trị Phúc Âm.” (Tuyên Ngôn Amsterdam, Hiến Chương Truyền Giáo cho Thế Kỷ 21.)  

Chúng ta hãy nghe lời Chúa nói về đồng ruộng: Thi 65:9-13

“Lạy Ðức Chúa Trời...

Ngài chăm sóc đất,

Làm cho đất màu mỡ và rất phì nhiêu.

Dòng suối Ðức Chúa Trời đầy nước,

Ngài cung cấp thóc lúa,

Ngài chuẩn bị đất bằng cách:

Ngài tưới nước các luống cày,

Ban bằng những mô đất,

Ngài ban mưa rào thấm nhuần đất đai,

Chúc lành cho hoa quả lớn lên.

 

Các lối Ngài đi qua đượm nhuần màu mỡ.

Các đồng cỏ nơi sa mạc được xanh tươi,

 

Các bầy chiên tràn ngập đồng cỏ,

Thóc lúa bao phủ các thung lũng.”

Thi 68:9 “ Lạy Ðức Chúa Trời, Ngài ban mưa dồi dào.”

Người Việt từ thời cổ xưa đã biết về điều này qua câu ca dao:

“Lạy Trời mưa xuống,

Lấy nước tôi uống,

Lấy ruộng tôi cày,

Lấy đầy bát cơm,

...

Người Việt Nam cũng đã biết suy luận để đi đến kết luận rằng Ông Trời là Ðấng Tạo Hoá:

“Trời sinh, Trời dưỡng.”

“Trời sinh voi, Trời sinh cỏ.”

 

“Thấy anh hay chữ,

Em hỏi thử đôi lời,

Thuở tạo thiên lập địa,

Ông Trời tròn ai xây.”

 

Khi chúng ta dùng từ ngữ Việt và tư tưởng Việt Nam để truyền bá đạo Ðức Chúa Trời có nhiều điểm lợi. Thứ nhất là người Việt sẽ dễ hiểu biết Ðức Chúa Trời vì những từ ngữ và ý niệm họ đã biết. Thứ hai người Việt sẽ dễ cảm thông và gần gũi với Ðạo Chúa hơn. Thứ ba là chúng ta sẽ tránh được cái hàng rào mặc cảm chống đối ngoại lai. Một trong những trở ngại chúng ta thường phải đối diện từ hơn 400 năm nay: Ðạo Công giáo là đạo Tây; từ gần 100 năm nay: Ðạo Tin Lành là đạo Mỹ. Một trong những nguyên nhân làm cho người Việt có quan niệm sai lạc trên là vì chúng ta không dạy dỗ, truyền bá Ðạo Chúa như là Ðạo Trời; chúng ta nhập cảng y nguyên những từ ngữ, ý niệm, nghi lễ tôn giáo của Tây phương. Một ví dụ điển hình, cho đến ngày nay Kinh Thánh Việt Nam (Bản Cadman-Phan Khôi) và đa số tín hữu vẫn dùng tên và hiệu của Chúa Cứu Thế theo phiên âm tiếng Tây (Jesus Christ). Vì Chúa của chúng ta có tên Tây hay tên Mỹ nên người ta cho rằng đạo Chúa là đạo Tây, đạo Mỹ là điều đương nhiên không thể tránh được. Nếu Ðức Chúa Trời đã bằng lòng khải thị cho người Pháp, người Mỹ, người Việt qua thiên nhiên, tư tưởng, ngôn ngữ của mỗi dân tộc thì Ngài cũng không bắt buộc người Việt phải dùng tên của Ngài phiên âm theo tiếng Tây hay tiếng Mỹ. Chúng ta nên phiên âm hay dịch nghĩa tên và danh hiệu của Chúa ra tiếng Việt và âm Việt để sử dụng và truyền thông Ðạo Chúa cho người Việt.

 

Chúng ta nên phiên âm hay dịch nghĩa tên và danh hiệu của Chúa từ nguyên văn Hy bá-lai hay Hy Lạp ra tiếng Việt hay âm Việt, (chúng ta không nên và không cần phiên âm từ tiếng Tây hay tiếng Mỹ).

Phiên âm tên Hy Lạp ‘Insous’: Giê-su.

Dịch nghĩa tên ‘Insous’: Ðấng hay Ðức Cứu Thế (Trong nhiều trường hợp các trước giả Kinh Thánh dùng danh hiệu ‘Chúa’ đi với tên ‘Giê-su’, trong trường hợp đó, chúng ta có thể dùng Chúa Giê-su hay Chúa Cứu Thế).

 

Phiên âm danh hiệu Hy Lạp ‘Xristos’ (nom.) :Ky-tô (như người Công giáo đã làm). Tuy nhiên từ thời chống đạo Chúa của một vài triều đại quân chủ Việt Nam, một số người đã đặt tên chó là Ki-ki; Tô-tô để nhục mạ danh Chúa. Ngày nay ở một số tỉnh miền Trung người ta vẫn còn đặt tên chó như thế. Ðể tránh trường hợp này chúng ta có thể phiên âm từ Xriston (accusative, thể đối cách của Xristos.) : Ky-tôn.

 

Dịch nghĩa danh hiệu Messiah, Xristos: Danh hiệu Messiah hay Xristos chỉ về Ðấng được xức dầu của Chúa. Ðộng từ “xức dầu” đến từ hai gốc từ ‘msh’ và ‘swk’. “Ngoại trừ bốn trường hợp, từ gốc ‘msh’ luôn luôn nói đến nghi lễ hay những hành động chính thức liên hệ đến khai mạc hay cung hiến, trong khi đó từ  gốc ‘swk’ luôn luôn nói đến vấn đề trang điểm và có lẽ cũng nói đến thuốc men, cách dùng dầu trong đời sống hằng ngày.”  Kinh Thánh cho thấy Ðức Chúa Trời xức dầu một người để ủy nhiệm hay phong chức cho người đó làm vua hay trong lễ đăng quang của một vị vua (Sau-lơ 1 Sa 9:16; Ða-vít 1Sa 16:13; Sa-lô-môn 1Vua 5:1). Dầu cũng được xức trong lễ khai mạc Ðền Tạm và phong chức thầy tế lễ (Dân 7:88; Xuất 25:6; A-rôn, Xuất 28:41). Trong một số trường hợp tiên tri cũng được xức dầu (1Vua 19:16; 1Sử 16:22; Thi 105:15; I-sa 61:1). “ Ðộng từ này có thể có túc từ là đồ vật...hay người như vua, thầy tế lễ và tiên tri.”  Ðộng từ ‘xức dầu’ ngoài việc đề cập đến vấn đề phong chức, đăng quang, cũng bày tỏ ý niệm biệt riêng ra (Thấy tế lễ, vua và tiên tri) và nhận được ân sủng thiêng liêng từ Ðức Chúa Trời để thi hành sứ mệnh của Ngài . Từ đó người được xức dầu có một địa vị mới trước mặt Chúa và trong cộng đồng dân Chúa. Ðây là lý do Ða-vít nhiều lần từ chối đụng đến người được xức dầu của Chúa (vua Sau-lơ) dù người đó gian ác, phạm tội. Danh từ  Messiah cũng nói đến một nhân vật được Ðức Chúa Trời chọn lựa và ban quyền năng để thi hành sứ mệnh của Ngài (Thi 2:2; 18:51;20:7). Các sách Tiên tri và Tiểu Tiên tri cũng nói đến nhân vật này khá nhiều. Theo học giả John Oswalt “Trong Kinh Thánh Cựu Ước có hai câu Kinh Thánh rõ ràng nhất nói về nhân vật này ở Ða 9:25,26.”  Vào thời đại giữa Tân Ước và Cựu Ước ý niệm này đã được khá phổ biến; đến thời Tân Ước, các môn đệ của Chúa nhận diện Chúa Giê-su chính là Ðấng Messiah (Gi 1:41, 49; Mat 16:16).

Như vậy từ Messiah hay Xristos có nghĩa gốc là “xức dầu” nhưng đa số được dùng để nói đến ý niệm Ðức Chúa Trời ‘chọn lựa, ủy nhiệm, phong chức, đăng quang, ban quyền năng cho một người để thi hành sứ mệnh, mục đích của Ngài.’ 

Theo nghĩa gốc từ Messiah hay Xristos có thể được dịch là ‘Ðấng được xức dầu’. Tuy nhiên trong tiếng Việt hiện nay, động từ ‘xức dầu’ thường được hiểu theo nghĩa ‘xức dầu thơm’ để trang điểm hay ‘xức dầu nóng’ để trị cảm cúm.v.v.Những ý nghĩa này cũng được dùng trong nguyên ngữ Hy-bá-lai nhưng là ý nghĩa phụ và ít thông dụng. Ða số từ messiah trong Cựu Ước đều dùng với ý nghĩa ‘chọn lựa, ủy nhiệm...’ như thế để tránh hiểu lầm chúng ta không nên dùng “Ðấng xức dầu’ nhưng chúng ta nên chọn một từ kép mang hai ý niệm ‘Ðức Chúa Trời’ và ‘chọn lựa, ủy nghiệm, phong chức...’. Chúng tôi đề nghị từ “Ðấng Thiên Nhiệm” để dịch ý nghĩa từ Messiah hay Xristos, để nói lên ý nghĩa Ðấng được Ðức Chúa Trời chọn lựa, ban quyền năng và ủy nhiệm để đem Vương Quốc của Ðức Chúa Trời đến cho nhân loại.

            3/ Nghiên cứu, tìm hiểu ý niệm về Ðức Chúa Trời của người Việt Nam đúng ở điểm nào, sai ơ ûđiểm nào. Qua vũ trụ vạn vật chúng ta thấy người Việt biết Ông Trời là Ðấng Tạo Hoá. Ðây là một ý niệm đúng; mạc khải phổ quát lẫn mạc khải đặc thù (Kinh Thánh) của Ðức Chúa Trời đều xác nhận điều này. Một số những ý niệm khác như Ông Trời là Ðấng tối cao, thưởng phạt công minh; Ông Trời ban phúc lành, tể trị thời tiết, mùa màng...là những ýniệm đúng về Ðức Chúa Trời như mạc khải đặc thù đã xác nhận. Tuy nhiên khi người ta đồng hoá Ông Trời với Tự Nhiên (tư tưởng Lão Tử) hay với Ngọc Hoàng Thượng Ðế có vợ và triều đình bá quan văn võ (ảnh hưởng Ðạo giáo) thì rõ ràng là trái với mạc khải đặc thù của Chúa và không đúng. Chúng ta cần giáo dục những tín hữu mới để họ hiểu đúng, nhưng  chúng ta không nên gạt bỏ tất cả những điều tin tưởng của người Việt Nam về Ông Trời, hãy cẩn thận phân biệt những ý niệm nào là đúng, ý niệm nào là sai. Ðiều này đòi hỏi sự giáo dục con dân Chúa kỹ càng để biết rõ Ðức Chúa Trời của mình và biết phân biệt.

            4/ Trong khi dạy dỗ tín hữu cũng như truyền bá Ðạo Ðức Chúa Trời, hãy

bắt đầu bằng những điểm tương đồng. Mặc dù con người sa ngã có thể không hiểu đa số những chân lý về Ðức Chúa Trời, đặc biệt là những chân lý cứu rỗi, nhưng qua mạc khải phổ quát, đa số nhân loại vẫn biết một số chân lý nguyên sơ về Ðức Chúa Trời. Phao-lô khi giảng dạy cho người Do Thái ông thường lý luận từ Kinh Thánh Cựu Ước. Nhưng khi giảng cho người ngoại quốc theo đa thần tại Lít-tra Phao-lô đã dùng ý niệm Ðấng Tạo Hoá, Ðấng ban mưa thuận gió hoà, ban thực phẩm (Công Vụ 14:14-17). Khi giảng cho những người vô thần, vật chất (Epicurean), đa thần (Stoic) và thờ thần tượng tại A-then, ông đã dùng lý luận từ mạc khải phổ quát: “Ðức Chúa Trời là Ðấng Tạo Hoá”, là Chúa tể của trời đất... (Công Vụ 17:24).

 

Chúng ta nên nhấn mạnh đến những điểm tương đồng nhưng không bỏ qua những điểm dị biệt và nhất là phải dùng mạc khải đặc thù để dạy rõ những điểm sai lầm, để bổ túc đầy đủ và đúng ý thức về Ðức Chúa Trời, về sự cứu rỗi duy nhất trong Chúa Giê-su.

 

Chúng ta biết chắc chắn rằng chúng ta có chân lý và hiểu biết Ðức Chúa Trời đúng vì ngoài mạc khải phổ quát chúng ta còn có mạc khải đặc thù bằng chữ viết (Kinh Thánh) và trong Ngôi Lời nhập thế và nhập thể, tức là Ðức Chúa Giê-su.

Mục sư Trần Ðào      

Sách Tham khảo

Walter M. Abbott, S.J. (Ed) The Document of Vatican II, New Century Pub., Inc. 1966

Leslie C. Allen, Word Biblical Commentary, Psalms 101-105, Word Books, 1983

Karl Barth, Church Dogmatics

L. Berkhof, Systematic Theology, Eermans 1941

G.C. Berkouwer, General Revelation, WM.B. Eerdmans, Grand Rapids 1955

Robert C. Broderick, Catholic Encyclopedia, Thomas Nelson Inc. Pub. 1976

Thiết Bùi, Từ Ðiển Hội Lễ Việt Nam, NXBVH 1993

John Calvin, Institutes of the Christian Religion, Wesminster Press

Win-Tsit Chan, Chinese Philosophy, Princeton 1963

Peter Craigie, Word Biblical Commentary, Psalms 1-50

F. Delitzsch, Commentary On The Old Testament, Psalms

Bruce Demarest, General Revelation, Zondervan 1982

James Dunn, Romans 1-8, Word Books Pub.

Bruce A. Demarest, General Revelation, Zondervan, Grand Rapids 1982

Roy Joseph Deferarri, Ed. The Fathers of the Church, Saint Augustine, The City Of God, Fathers of the Church, Inc. 1952

Miller Erickson, Christian Theology, Grand Rapids 1985

Wayne Grudem, Systematic Theology, Zondervan 1994

Carl F.H. Henry,  God, Revelation and Authority, Word Book 1976

Charles Hodge, Systematic Theology, Charles Scribner’s Sons 1885

Kleinknecht, Theological Dictionary of New Testament

Gordon Lewis & Bruce A. Demarest, Intergrative Theology, Zondervan 1996

Ott Ludwig, Fundamantals of Catholic Dogma, Tan Books 1960

Alister McGrath, Glimpsing the Face of God, Eerdmans 2002

Edgar Y. Mullins, The Christian Religion In Its Doctrinal Expression, The Judson 1938

Douglas Moo, Romans 1-8, Moody Press

Cần Duy Nguyễn, Lão Tử Tinh Hoa

Lang Nguyễn, Viết Nam Phật Giáo Sử Luận, NXB Văn Học 1994

Thục Ðăng Nguyễn, Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, NXB HCM 1992

Toản Nghiêm, Lão Tử Ðạo Ðức Kinh

John Oswalt, New International Dictionary of Old Testament Theology & Exegesis,  

Lan Yu Phung, A Short History of Chinese Philosophy, The McMillan 1948

Karl Rahdner, Foundation of Christian Faith, Crossroad 1982

Albrecht Ritschl, The Christian Doctrine of Justification and Reconciliation, 1902

Fredrich Schleiermacher, The Christian Faith, Philadelphia Fortress 1976

R.V. Schnucker, Evangelical Dictionary of Theology, Baker 1984

Basel K. Seybold, Theological Dictionary of the Old Testement, Eerdmans 1998

Paul Tillich, Systematic Theology, The University of Chicago Press 1951

Willem A. VanGemeren, The expositors Bible Commentary

NEXT

 





What the world says about tri and related to ngi
The Fastest FTPS anywhere, FREE Go FTP Software