Tìm hiểu về
NHÂN CHỨNG GIÊ-HÔ-VA (JW)
(tiếp theo)
Đăng Cao
Lời toà soạn: Bài viết về JW trên Tinh Thần số 12 được nhận nhiều ý kiến. Bên cạnh những lời khuyến khích vì giúp độc giả hiểu rõ hơn về giáo phái này, chúng tôi cũng nhận một số ý kiến cho rằng không cần phổ biến những nghiên cứu về tôn giáo khác vì sẽ gây chia rẻ và sẽ không bao giờ có sự đồng thuận giữa các tôn giáo với nhau. Chúng tôi đồng ý rằng Tinh Thần sẽ không phổ biến những phê bình về các tôn giáo bạn không cùng chung tin ngưỡng. Tuy nhiên, vì JW là một tổ chức cũng dùng Kinh Thánh như các hệ phái Tin Lành nhưng giáo lý của JW lại khác và có khi trái nghịch với Tin Lành, nên Tinh Thần thấy cần phổ biến những phân tích lý do của sự khác biệt đó. Những nghiên cứu này hữu ích không những cho tín đồ Cơ đốc để giữ vững đức tin mà có khi còn giúp JW thấy được chân lý mà quay về với sự thật.
KINH THÁNH CỦA GIÁO PHÁI JW
BẢN DỊCH NEW WORLD TRANSLATION (NWT)
Ngay từ ban đầu, Nhân chứng Giê-hô-va (viết tắt là JW) là một giáo phái tích cực hoạt động để chống lại một số căn bản giáo lý của các hệ phái Cơ-đốc giáo dựa vào Thánh Kinh. Có rất nhiều bài viết thật chi tiết về lịch sử thành lập và phân tách những dạy dỗ sai lầm của giáo phái này qua những giáo thuyết của họ. Chúng tôi sẽ liên tục trình bày qua nhiều số báo trong tương lai
Mục đích của bài này là phân tích bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh của giáo phái JW và mổ xẻ những thay đổi cố ý trong bản dịch này để quyển Kinh Thánh của họ phù hợp với giáo thuyết của họ. Bản dịch của JW có tên là bản dịch New World Translation (viết tắt là bản NWT), do tổ chức có tên là Watchtower Bible and Tract Society (Kinh Thánh Tháp Canh và Tiểu Luận Xã ) phụ trách.
Độc giả sẽ quyết định mức độ chính xác so với bản gốc viết bằng tiếng Hebrew (Hê-bơ-rơ) và Greek (Hy lạp) dù giáo phái này cho rằng bản dịch của họ đã tôn trọng và mang danh dự cho quyển Kinh Thánh như là một khải thị từ thiên thượng. Nếu bản dịch của họ không chính xác với sự khải thị của Đức Chúa Trời mà chỉ dịch để phù hợp với tín lý của mình bất chấp nguyên bản viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ hay tiếng Hy Lạp thì bản dịch của họ rõ ràng không phải là lời công bố của Đức Chúa Trời mà chỉ là một quyển sách do loài người viết ra theo chỉ thị của một tổ chức. Nó trở thành một bản cương lỉnh của một tổ chức chính trị đội lớp tôn giáo trong mục đích củng cố quyền lực, che đậy sự thật hay yếu kém tri thức của một thiểu số chóp bu mà thôi.
BẢN DỊCH SONG NGỮ EMPHATIC DIAGLOTT
Trước khi phân tích bản dịch NWT, chúng ta cần biết thêm là trong khoảng 70 năm trước khi có bản NWT, giáo phái Nhân Chứng Giê Hô Va (JW) tại những quốc gia nói tiếng Anh dùng bản dịch Emphatic Diaglott . Emphatic Diaglott là một bản dịch song ngữ . Phần Tân ước do Benjamin Wilson biên soạn và ấn hành vào năm 1864 và là bản nhuận chánh từ một bản dịch của tác giả Johann Jakob Griesbach vào năm 1806. Tiếc thay, khi dùng bản dịch này, những người lãnh đạo của JW không bao giờ cho tín hữu của mình biết là bản dịch này có nhiều sai lầm hay cho biết ông Wilson là một người thuộc nhóm Christadelphia, là một dị giáo có những giáo thuyết gần giống với JW và bản dịch của họ hoàn toàn được sửa chữa để hợp với giáo thuyết của họ.( xem bài viết The New World Translation of the Jehovah’s Witnesses của hai học giả : tiến sĩ John Ankerberg và John Weldon trên internet)
Trong lần tái bản vào năm 1902 do Tháp Canh Xã ấn hành, bản dịch này dùng bản kẻm cũ nhưng họ sửa lại là do chính họ là nhà xuất bản nên ít ai biết đó là bản dịch của nhóm dị giáo Christadelphia do J.J Griesbach dịch. Sự giấu giếm này là một hành vi không nên có trong văn học huống chi trong tôn giáo nếu JW cho mình là một tôn giáo.
Theo các nhà xuất bản, một trong những lý do mà bản Kinh Thánh tiếng Anh cần có những bản dịch mới vì các bản dịch như King James quá cổ, có những từ ngữ ngày nay không còn dùng. Hơn nữa ngày nay, người ta tìm ra nhiều bản Kinh Thánh cỗ tiếng Hebrew và tiếng Hy Lạp nên người ta có nhiều cơ hội đọc và so sánh với các bản dịch cũ. Nhiều người đồng ý là những bản dịch mới dễ hiểu hơn và chính xác hơn vì dùng những danh từ gần với đại chúng hơn và ban dịch thuật gồm nhiều nhân vật có kiến thức về tiếng Hebrew và Hy-lạp hơn. Hiện nay, bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh có rất nhiều như: NKJV, NIV, NASB, Holman CSB, NLT, ESV, The Message, Geneva Bible, NET Bible, Amplified Bible, The Word... Ngoài ra nhiều Mục sư cũng tự dịch và xuất bản những Kinh Thánh tiếng Anh như Mục sư Max Lucado, Maxwell Jr., Norman L.Geisler .
Trong bản dịch NIV mà tôi đang dùng, tôi biết có ít nhất là trên 50 người. Họ là những viện trưởng, khoa trưởng các trường Thần học, giáo sư thần học, các chuyên viên về cỗ ngữ tiếng Hê-bơ-rơ, tiếng Hy lạp và họ có nhiều cố vấn về văn chương, phong tục hay lịch sử của hai dân tộc này và miền Trung Đông. Độc giả cũng nên biết là phần Cựu Ước của quyển Kinh Thánh nguyên bản được viết bằng tiếng Hebrew ( Hê-bơ-rơ) còn phần Tân Ước được viết bằng tiếng Greek ( Hy-lạp). Vì vậy muốn công việc dịch Kinh Thánh được chính xác, người dịch hay ban dịch thuật phải có người am tường thông thạo hai thứ tiếng này và hiểu rõ văn hoá, phong tục, tập quán của hai dân tộc này.
Năm 1946, vị Chủ tịch của Tháp Canh Xã (Watch Tower Society) là ông Nathan H. Knorr thấy JW cần có một bản dịch mới để cho các tín hữu JW dùng. Một Ủy Ban dịch thuật được thành lập và công việc dịch thuật bắt đầu ngày 2 tháng 12 năm 1947.
Ngày 3 tháng Chín năm 1949, ông Knorr tuyên bố trong buổi họp ban quản trị của Tháp Canh Xã của hai tiểu bang New York và Pennsylvania rằng bản dịch tiếng Anh đã hoàn tất và bắt đầu ấn loát.
Tuy nhiên, phần Tân Ước của quyển NWT chỉ được phát hành gần một năm sau tại đại hội vào ngày 2 tháng Tám 1950 và phần Cựu Ước gồm năm quyển được phát hành vào năm 1953, 1957, 1958 và 1960. Cuối cùng quyển Kinh Thánh toàn bô gọi là bản dịch New World Translation (NWT) được phát hành vào năm 1961 tức 12 năm sau ngày vị Chủ tịch của họ công bố đã hoàn tất.
DỊCH GIẢ VÀ CHỦ BIÊN
Ủy ban dịch thuật được lập ra vào cuối năm 1947 gồm có nhiều người có trình độ văn hoá khác nhau. Ủy ban yêu cầu Tháp Canh Xã không công bố danh tánh các dịch giả với lý do rất cao cả là họ “ không muốn tự quảng cáo hay không muốn được đề cao mà họ muốn chính tác giả quyển Kinh Thánh được sự vinh hiển.”
Tuy nhiên, qua sự tiết lộ của những người trong Governing Body, bộ phận lãnh đạo của tổ chức JW, người ta biết Ủy ban này gồm 7 người trong đó có Nathan H. Korr ( Chủ tịch của Tháp Canh Xã), Fredrrick W. Franz (Phó Chủ Tịch). George D. Gangas và Albert D. Schroeder. Còn hai người khác không biết tên.
Theo ông Raymond V. Franz, cháu của Frederick W. Franz, thì nhân vật chánh chủ động công tác dịch thuật là Frederick W Franz. Ông M. James Penton cũng cho rằng: chủ ý và mục tiêu của công tác dịch thuật quyển Kinh Thánh NWT là công việc của một người, đó là Frederick W Franz. Franz về sau là Chủ tịch của Tháp Canh Xã từ 1977 đến 1992 và trách nhiệm nhuận chánh bản dịch này.
JW rất bối rối khi danh sách các dịch giả được công bố. Lý do là hầu hết các nhân vật trong Ủy ban dịch thuật đều không biết tiếng Hebrew hay tiếng Greek và trình độ văn hoá thấp kém của họ. Không ai tốt nghiệp Đại học.. Chỉ có một người tự nhận là biết hai thứ tiếng này là ông Frederick W Franz. Tuy nhiên, qua một kỳ khảo hạch có tuyên thệ tại Toà án Edinburgh, Scotland, ông Franz đã không thể dịch một câu tiếng Hebrew.
Sau đây là phần thẩm vấn ngày 24 tháng 11 năm 1954 tại Toà án:
Nhưng qua ngày hôm sau, Ông Franz lại được đưa ra thẩm vấn lần thứ hai và ông đã đổi giọng. Sau đây là cuộc đối thoại đó:
Sự thật là ông Franz cũng như các nhân vật khác trong Ủy Ban không có khả năng dịch từ tiếng Hebrew hay tiếng Greek ra tiếng Anh. Ông Franz chỉ học một năm ở đại học Cincinnati và trong một năm đó ông không hề học về một bộ môn nào liên quan đến thần học hay ngữ học ( Trích từ quyển Reasioning from the Scriptures with the Jehowa’s Witnesses của tác giả Ron Rhodes, do nhà xuất bản Harvest House 1993 trang 98)
Cũng trong buổi làm chứng trước Toà án đó, ông Frederick W Franz cho biết:
Sự tiết lộ này làm ngạc nhiên nhiều người. Điều mà ông Franz tiết lộ trước toà án cho chúng ta thấy thay vì bản Kinh Thánh được viết bởi những nhân vật do Thánh Linh hướng dẫn thì bây giờ chúng ta lại thấy chính các Thiên sứ hay các Thần Linh kiểm soát việc làm và bản dịch NWT là sản phẩm của các thần linh hơn là một tác phẩm mà người dịch được cảm hứng bởi Thánh linh.
Bản dịch Tân Ước năm 1937 do một người lên đồng bóng tên là Johannes Greber lại rất giống với bản NWT . Nếu giáo phái này bị kiểm soát bởi các Thiên sứ với nhiều đẳng cấp khác nhau thì các thiên sứ này chính là những thiên sứ xấu nghĩa là nhóm tà thần, tà linh. Điều này giúp phần nào hiểu vì sao họ luôn luôn có khuynh hướng chống lại các tín hữu Cơ-đốc với giáo thuyết đầy sai lệch của họ.
Trong bản NWT này, JW không dùng chữ Cựu Ước (Old Testament) hay Tân ước (New Testament) như hầu hết các bản dịch hiện hành để chỉ hai phần của quyển Kinh Thánh. Họ dùng Hebrew-Aramaic Scriptures (Kinh Thánh tiếng Hebrew-Aramaic) để chỉ phần Cựu Ước và Christian-Greek Scriptures ( Kinh Thánh tiếng Hy-lạp của Cơ đốc nhân) để chỉ phần Tân Ước. Các dịch giả NWT cho rằng dùng chữ “ước” dựa trên sự hiểu sai lầm câu Kinh văn 2 Cô-rinh-tô 3:14 “Nhưng lòng họ đã cứng cỏi; vì đến ngày nay, khi họ đọc Cựu Ước, cái màn ấy vẫn còn chưa cất khỏi, bởi chưng ấy là trong Đấng Christ mà màn đó biến đi.”
Ngoài ra, thay vì họ dùng BC ( do chữ Before Christ = trước Chúa Jesus Christ) và AD ( do chữ Anno Domini tiếng Latin có nghĩa là “in the year of our Lord = trong năm của Chúa. Có người cho rằng chữ AD là do chữ After Died , tuy nhiên điều này không chính xác) để chỉ thời gian trước Công Nguyên và sau Công Nguyên thì họ dùng BCE ( before common era = trước kỷ nguyên chung) và CE .
Bản Kinh Thánh mới này của JW cho thêm 237 danh từ “Giê-hô-va” vào trong phần Tân Ước trong khi đó bản chính nguyên thủy Tân Ước dùng chữ “Kyrios” tức là God (Đức Chúa Trời).
NHẬN ĐỊNH CỦA VÀI HỌC GIẢ THẦN HỌC
Tiến sĩ Robert Counters trong đề án “ The Jehovah’s Witness New Testament: A Critical Analysis of the New World Translation of the Christian Greek Scriptures ( Phillipsburg, NJ Presbyterian and Reformed, 1982) đã kết luận:
“Bản dịch NWT phải được xem là một công việc hoàn toàn có dụng ý riêng. Có vài chỗ dịch rất thiếu chân thật. Còn những chỗ khác thì thiếu tính cách thận trọng của một dịch giả.”
Giáo sư Edmond Gruss, tác giả quyển “Apostles of Denial” viết:
“ Thông dịch cho bất cứ một đoạn văn nào đòi hỏi một sự thận trọng về văn phạm của lý giải. Những tác phẩm của Tháp Canh lập lại nhiều lần những giáo thuyết và lối giải kinh hoàn toàn sai lạc hay bỏ qua văn phạm. Trước khi Tháp Canh Xã bước vào lãnh vực dịch thuật, Kinh Thánh có nhiều câu gây khó khăn cho giáo phái này vì nó trực tiếp mâu thuẫn với giáo thuyết của họ. Nên với bản dịch NWT, những khó khăn nói trên đã được giải quyết hay loại trừ bằng lối dịch bất chấp những nguyên tắc, luật lệ về văn phạm”
Tiến sĩ Anthony Hoekema, tác giả quyển “The Four Major Cults” viết:
“ JW trình bày hệ thống giáo thuyết của họ qua bản dịch NWT và áp đặt quyển Kinh Thánh phù hợp với niềm tin của họ thay vì niềm tin của con người phải phù hợp với Kinh Thánh. Bản dịch NWT của JW không cách nào nói lên sự linh thiêng của lời Chúa dù cho họ dùng cách hành văn Anh ngữ tân thời. Bản dịch hoàn toàn theo tư lợi, phục vụ cho giáo thuyết của mình.”
Tiến sĩ Walter Martin, tác giả quyển “Jehovah of the Watchtower” cho biết 5 trong số 7 thành viên của Ủy Ban phiên dịch Kinh Thánh của JW không được học về tiếng Hy Lạp mà nguyên bản Kinh Thánh Tân Ước được viết bằng tiếng Hy Lạp.. Ông nhận xét:
“ Tổ chức JW giữ bí mật danh tách của các dịch giả của họ vì họ biết rằng các người này không đươc chuẩn bị để làm công việc của những học giả. Không ai trong Uỷ ban dịch thuật được huấn luyện về tiếng Hy lạp.”
Tiến sĩ Bruce Metzger, giáo sư về Ngôn Ngữ và Văn Hoá Tân Ước tại Viện Thần Học Princeton và tác giả quyển “ The Text of the New Testament” tuyên bố rằng:
“Giáo Phái JW dựng lên một bộ Kinh với những lỗi lầm về tiếng Hy Lạp.”
Tiến sĩ Julius Manley là một trong những học giả hàng đầu về tiếng Hy lạp và tác giả quyển “ The Dana-Mankey Greek Grammar and A Hellenistic Greek Reader” đã viết:
“ Tôi chưa bao giờ đọc bất cứ bản Tân Ước nào mà dịch tệ hại như bản dịch The Kingdom Interlinear Translation of the Greek Scriptures. Bản dịch đã dùng những gì mà ông J.B. Rotherham đã dịch hồi 1893 rồi thay đổi theo cách nói hiện đại và thay đổi ý nghĩa theo đức tin cũng như dạy dỗ của JW. Đó là sự bóp méo, xuyên tạc chớ không phải là một bản dịch.”
Tiến sĩ William Barclay kết luận rằng sự bóp méo sự thật có tính toán của giáo phái JW được thấy qua bản dịch NWT. Thật rõ ràng đây là một giáo phái có thể dịch Tân Ước như vậy là một sự không chân thật trí thức. ( intellecytually dishonest). (Xem trong Rhodes R. The challenge of the Cults and New Religions, The Essential Guide to Their Hostory, Their Doctrine and Our Response, Zondervan, 2001, trang 94)
VÀI THÍ DỤ VỀ LỖI LẦM CỐ Ý TRONG BẢN DỊCH NWT
Để giải thích cho những nhận xét trên của vài học giả Kinh Thánh, tôi xin được nêu ra vài sai lầm trong cách dịch của quyển Kinh Thánh NWT. Độc giả sẽ thấy bản NWT hoàn toàn được dịch để phù hợp với giáo lý của JW.
Bản dịch NIV : Then they will go away to eternal punishment, but the righteous to eternal life.
Bản dịch NWT( JW) : And these will depart into everlasting cutting-off, but the righteous ones into everlasting life
Bản tiếng Việt : Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời.
Trong câu kinh văn này, trong bản dịch của JW, chữ “kolasin” của tiếng Hy lạp được dịch sang tiếng Anh là cutting-off, có nghĩa là cắt đứt, chặt đứt để phù hợp với chủ trương của JW là không hề có hình phạt đời đời. Do đó chúng ta phải tìm hiểu theo nghĩa thông thường chữ “kolasin” phải được hiểu như thế nào theo cổ ngữ Hy lạp.
Qua hai ngàn năm, ngôn ngữ loài người có tiến hoá, bây giờ chữ kolasin có thể chuyển ngữ là cắt đứt hay chặt đứt (cutting-off) trong nghĩa dứt bỏ một cái gì xấu xa và nó cũng có thể hiểu là trừng phạt trong mục đích là để sửa chữa lại. Tuy nhiên, hồi thế kỷ thứ nhất, lúc quyển Kinh Tân Ước được viết, chữ kolasin không có nghĩa như thế. Các học giả về cổ ngữ Hy lạp đều đồng ý với bản nhận định sau đây của hai học giả Mantey và Trech (viết bằng tiếng Hy Lạp và được tiến sĩ John Ankerberg dịch sang Anh ngữ . Chúng tôi xin tạm dịch như sau :
“Trong Kinh Thánh, bản dịch NWT của JW và trong câu Kinh văn của sách Ma-thi-ơ 25:45, chữ Hy lạp “kolasin”, thường được dịch là “hình phạt” theo cổ ngữ Hy Lạp, được JW dịch là “cắt đứt” dù rõ ràng hiển nhiên là không có một chứng cớ cổ ngữ nhỏ nhặt nào cho thấy có thể dịch theo nghĩa đó. Chúng tôi tìm thấy chữ này được viết hồi thế kỷ thứ nhất qua 107 bản văn khác nhau và trong tất cả các bản văn đó, chữ kolastin đều được dùng theo nghĩa là “hình phạt”. Không có bản viết nào mà chữ này có nghĩa là “cắt đứt”. Tuy nhiên vì họ chủ trương rằng không có sự trừng phạt đời đời nên họ đã chuyển ngữ như vậy để Kinh Thánh của JW phù hợp với giáo thuyết của họ. Chữ kolasin cũng bị dịch sai trong lá thư IGiăng 4:18. Trong câu này, bản NWT dịch chữ kolasin thành chữ “restraint” (sự kiềm chế). Trong Ma-thi-ơ 25:46, “hình phạt đời đời” có nghĩa thật rõ ràng, không thể sửa ... bằng cớ là chữ kolasin qua chữ kolazesthai thông dụng trong dân chúng Hy lạp còn mang một ý nghĩa trừng phạt nặng nề và khi dịch chữ này một cách đơn giản là “hình phạt” chúng ta phải hiểu là người chịu hình phạt đó phải chịu đựng sự trừng phạt kéo dài. Chúng ta chỉ có thể tìm thấy ý nghĩa của chữ này qua những tác giả như: Josephus, Antt.xv.2:2, Phil. De Agric.9; Mart. Polycarp.2; 2Macc iv 38; Wisd. xix.4; và những chữ mà chính Thánh Phi-e-rơ dùng trong lá thư thứ hai câu 2:9.
Chúng tôi sẽ trình bày quan niệm về tín lý “sự trừng phạt đời đời” mà JW bài bác trong số báo khác. Tuy nhiên điều mà chúng tôi muốn nêu ra trong phân đoạn này là không ai có thể sửa Kinh Thánh để phù hợp với niềm tin của mình. JW không thể dùng cách dịch thuật không đúng sự thật để bóp méo lời Chúa và đó là điều mà độc giả cần phải quan tâm khi đọc quyển Kinh Thánh của JW. Quý độc giả sẽ thấy điều này tái diễn qua câu kinh văn tiếp theo.
Bản NIV : I tell you the truth, Jesus answered, before Abraham was born, I am !
Bản NWT: Jesus said to them: Most truly I say to you, before Abraham came into existence, I have been.
Bản tiếng Việt: Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta.
Cách dịch chính xác chữ Hy lạp “eimi” là “I AM” (Ta Là) chớ không phải là “I have been” ( Ta đã là) như bản NWT của JW. Nhóm chữ I AM , viết theo thì hiện tại, diễn đạt sự hiện hữu đời đời từ trước Áp-ra-ham và vô cùng, không có bắt đầu và không có chấm dứt. Đó là tình trạng duy nhất dùng để mô tả Đức Chúa Trời. Khi Chúa Jesus nói Ngài là I AM, người Do Thái hiểu ngay rằng Ngài muốn cho họ biết Ngài với Đức Chúa Trời là một. Đây là điều mà JW cố tránh vì JW cho rằng Chúa Jesus kém thế hơn Đức Chúa Trời và không phải là ngôi hai Đức Chúa Trời.
Tiến sĩ Mantey xác nhận: “ Cách dịch của JW qua “ I have been” hoàn toàn sai. JW có ghi chú là họ dùng “ perfect indefinite tense” (thì hoàn thành không xác định) cũng sai. Theo sự hiểu biết của tôi (tức là của Mantey), trong văn phạm Hy lạp không có thì này. Vì vậy, không thể nào dịch eimi theo thì hoàn thành không xác định mà có thể chính xác với tiếng Hy lạp trong Tân Ước được.”
Điều cũng đáng nói là theo Michael Van Buskirk, tác giả của quyển “The Scholastic Dishonest of the Watchtower” thì trong hai lá thư chính thức của Tháp Canh Xã thì có 4 thì áp dụng cho chữ ego eimi: (1) thì present indicative first person singular (2) historical present (3) perfect indicative tense (4) perfect indefinite tense. Theo văn phạm Hy lạp, không có số (4) perfect indefinite tense ( như tiến sĩ Mantey nói trên) và thì chính xác áp dụng trong trường hợp này là (1) present indicative first person singular và nếu dịch theo đúng tense này thì phải dịch là I AM.
Theo giáo sư tiến sĩ Raymond Brown, ý nghĩa của phân đoạn Kinh văn này bắt đầu từ câu 8:12 khi Chúa Jesus vào nhà đền thờ và dạy dỗ dân sự. Câu 8:12 ghi lời Chúa Jesus nói với dân chúng : I AM the light of the world... Ta là sự sáng của thế gian ... và kết luận rằng: “Before Abraham was born, I AM”. (Trước khi Áp-ra-ham sinh ra, Ta hiện hữu đời đời). (khả năng tiếng Việt Nam của tôi không thể diễn tả được hết ý nghĩa của I AM. ).
Người Giu-đa nhận ra cái ý nghĩa của nhóm chữ này vì I AM là tên của Đức Chúa Trời ( xem trong Xuất Ê-díp-tô-ký 3:14) nên họ lấy đá ném quăng vào Chúa Jesus bởi vì theo sách Lê-vi-ký 24:16 ghi rằng “ai nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va sẽ bị xử tử, cả hội chúng sẽ ném đá nó”. Nếu Chúa Jesus nói “I have been” như bản dịch NWT của JW thì tại sao dân chúng ném đá Ngài. Họ ném đá vì Chúa Jesus đã nói : I AM. Như vậy không thể dịch chữ eimi ra “I have been” vì nó thiếu căn bản. (xem Raymond Brown, The Gospel According to John, Anchor Bible, Vol 1 trang 367 )
Chú ý rằng nếu dịch eimi là I AM tức là nhìn nhận Chúa Jesus là eternally preexistent ( hiện hữu đời đời và Ngài là Đức Chúa Trời ngôi hai vì đó là danh xưng của Đức Chúa Trời). Còn nếu dịch eimi là I Have Been tức là Chúa Jesus chỉ hiện hữu trước Apraham (không có đời đời và không ngang tầm với Đức Chúa Trời là Đấng xưng mình là I AM trong Xuất 3: 14 ).
Độc giả muốn đầy đủ dữ kiện về sự phân tích câu Kinh văn này , xin tham khảo quyển “Reasoning From the Scriptures with the Jehovah’s Witnesses” của Ron Rhodes , Eugene, OR, Harvest House, 1993 trang 113-120.
Chúng tôi cũng xin lỗi độc giả đã dùng nhiều tiếng Anh trong phân đoạn này vì có nhiều nhóm chữ tôi không biết phải dùng tiếng Việt nào để nói lên hết ý nghĩa của nó.
3. Giăng 1:1
Bản NIV : In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God.
Bản NWT : In beginning the Word was, and the Word was with God, and the Word was a god.
Bản tiếng Việt: Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi lời là Đức Chúa Trời.
Bản tiếng Hy lạp : En arche en ho logos kai ho logos en pros ton theon kai theos en ho logos. (dịch theo thứ tự từng chữ: In beginning was the Word and the word was toward the God and God was the Word).
Bản chất của vấn đề là sự hiện diện của quán từ “the” trước chữ “god”. Quán từ “the” có nghĩa xác định và duy nhất, không thể lẫn lộn với người khác hay vật khác. Khi chữ “the” đi liền với chữ “god” thì chữ “god” đó phải được hiểu là Thượng đế, Đức Chúa Trời duy nhất, không thể lẫn lộn với các thần khác.
Trong câu kinh văn này, chữ “God” thứ nhất có chữ “the” dịch từ chữ Hy-lạp là ton theon ( chữ ton = the). Vì vậy chữ “God” thứ nhất được dịch là “Đức Chúa Trời”. Trong khi đó , chữ “ god” thứ nhì trong câu Kinh văn này không có quán từ “the”. Bản Hy-lạp viết “kai theos en ho logos “ (and God was the Word) nên NWT dịch “Ngôi Lời là một thần” (the Word was a god). Và qua cách dịch này, JW tránh được sự xác nhận Chúa Jesus (Ngôi Lời) là Đức Chúa Trời. Theo JW, Chúa Jesus chỉ là một thần mà thôi. JW không chấp nhận giáo lý Ba Ngôi và cho rằng Chúa Jesus thấp hơn Đức Chúa Trời.
Sự khó khăn mà sứ đồ Giăng gặp phải trong câu kinh văn này là việc sử dụng quán từ “the” . Nếu Giăng viết rằng “the God was the Word” thì chứng tỏ Ngôi Lời (tức là Chúa Jesus) là Đức Chúa Trời Ba Ngôi bao gồm cả Chúa Cha và Chúa Thánh Linh và như thế thì sứ đồ Giăng phủ nhận giáo lý Ba Ngôi. Vì vậy mà Giăng không dùng quán từ “the” cho chữ “God” thứ hai trong câu kinh văn này.
Theo quyển “Greek-English Lexicon of the New Testament and Other Early Christian Literature” của học giả William F. Arndt và F. Wilbur Gingrich, trang 357, chữ “theos” thông thường được dùng để nói đến Đức Chúa Trời, có khi có quán từ “the”, và có khi không có quán từ “the”. Một ví dụ là trong Lu-ca 20:38, khi nói đến Đức Chúa Trời , Lu-ca đã viết : “ He is a God, not of the dead, but of the living” ( theo bản NWT của JW). (Ngài không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết nhưng của kẻ sống). Do đó, JW không thể viện vào câu Kinh văn Giăng 1:1 với không có quán từ “the” mà cho rằng Chúa Jesus chỉ là một thần như các thần khác.
Điều thứ hai là khi một danh từ không có quán từ “the” không nhất thiết phải thêm quán từ bất định “a” vào. Nói cách khác, theos (god) không có quán từ ho (the) khi dịch, không nhất thiết phải thêm quán từ “a” vào. Hai học giả về văn phạm Hy lạp là Julius Mantey và E.C. Colwell cũng đồng ý rằng theos trong Giăng 1:1 không có nghĩa mơ hồ nên không thể cho thêm một quán từ không xác định là “a” vào để trở thành “a god”
Walter Martin và Norman Klann trong quyển “ Jehovah of the Watchtower” (MN: Bethany House Publishers, 1974, trang 49 và 50) có nhận xét rằng trong bản văn tiếng Hy lạp, sự thiếu quán từ “the” trước chữ theos không có nghĩa là một thần khác mà chính là Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh. Hãy quan sát nhiều câu Kinh văn mà trong đó chữ theos không có quán từ “the” đứng trước như trong Ma-thi-ơ 5:9; 6:24; Lu-ca 1:35, 78; 2:40; Giăng 1:6, 12,13,18;3:2,21;9:16, 33; Rô-ma 1:7,17,18; I Cô-rinh-tô 1:30;15:10; Phi-líp 2:11,13; Tít 1:1.
Một vấn đề khác không liên quan đến vấn đề văn phạm nhưng cũng quan trọng cần được nêu ra. Để bào chữa hay để yễm trợ cho lối dịch theo ý riêng của mình là đúng, Watchtower dùng những học giả về Kinh Thánh Hy-lạp để biện hộ. Ví dụ như:
Chúng tôi lần lượt nhận xét về bốn nhân vật mà JW dùng để biện hộ cho bản dịch NWT
Sự thật Johannes Greber là ai? Ông ta là một người đồng bóng (spiritist), tác giả quyển “ Communication with the Spirit World of God” (Thông đạt với thế giới thần linh của Chúa Trời). Trong quyển sách này, ông tiết lộ các thần linh đã giúp ông dịch quyển Tân Ước. Ông thấy các chữ chiếu sáng bay qua trước mắt ông. (xem Coping with the Cults của Lorri MacGregor, Eugene OR, Harvest House Publishers 1992, trang 21).
Theo báo Tháp Canh (Watchtower) số phát hành ngày 1/4/1983, tổ chức JW không biết Greber là một đồng bóng cho đến năm 1980, JW mới phát giác ra điều này và khi biết sự thật này họ chấm dứt dùng tên của ông ta trong danh sách người ủng hộ. Tuy nhiên, điều này lại dẫn đến một sự thật khác là JW đã biết Greber là một người lên đồng từ năm 1956. Bằng cớ là trong báo Tháp Canh ra ngày 15/2/1956 có đăng nguyên một trang về ông Greber và sự lên đồng bóng của ông ta. Mặc dù biết vậy, JW vẫn tiếp tục dùng tên Greber như là một thẩm quyền yễm trợ quyển NWT cho đến khi bị tố giác.
Tiến sĩ Julius R. Mantey, tác giả quyển “ A Manual Grammar of the Greek New Testament” có thật sự ủng hộ bản dịch NWT về câu Kinh văn Giăng 1:1 không? Trái lại , ông đã khước từ việc ủng hộ bản dịch này.
Trong một cuộc phỏng vấn do tiến sĩ Walter Martin của Viện Nghiên Cứu Cơ Đốc ( Christian Research Institute) thực hiện, tiến sĩ Mantey đã xác nhận điều này khi ông được hỏi về câu Giăng 1:1 “ Ngôi Lời là một thần” (The Word was a god) của tổ chức Tháp Canh Xã . Ông phát biểu : “ JW đã hoàn toàn quên mất rằng thứ tự của câu văn cho biết Ngôi Lời ( Logos hay Word) có cùng một bản chất, bản tánh và thực chất như Đức Chúa Cha. Khi cho rằng Chúa Jesus là một thần, JW hoàn toàn dùng một cách cấu trúc khác hẳn không hề có trong tiếng Hy lạp.” Tiến sĩ Martin hỏi thêm: “Ông đã có lần viết thư cho JW cho họ biết ý kiến khác biệt của ông về điều này. Họ trả lời như thế nào ?” Mantey đáp : “ Tôi rất khó chịu vì họ dùng một phần quyển sách của tôi là “ A Manual Grammar of the Greek New Testament” để công bố là tôi đồng ý với cách dịch tiếng Hy lạp của họ. Tôi gọi điện thoại cho họ biết điều này và yêu cầu họ lưu ý rằng quyển Kinh Thánh Tân ước chống lại quan điểm của họ. Xuyên qua quyển Tân Ước, Chúa Jesus đầy vinh hiển và phi thường chớ không phải là một thần mà JW cố tình chê bai.” Tiến sĩ Mantey cho biết thêm : “JW dùng vài chữ trong sách của tôi để nói rằng tôi ủng hộ bản dịch của họ để dối gạt dư luận rằng các học giả về cổ ngữ Hy Lạp đồng ý với JW. Tôi có thể nói gần như tất cả các học giả , giáo sư, các nhà văn phạm, nhà phê bình về tiếng Hy lạp đều đồng ý với nhau về nhận định của tôi, ngoại trừ một người thuộc nhóm Unitarian cho rằng Chúa Jesus là một thần . Tôi tin rằng thật khủng khiếp cho một người vì bị gạt mà đi vào sự hư mất đời đời do một người nào đó hướng dẫn đi vào con đường sai lầm bằng cách làm méo mó Kinh Thánh. Chín mươi chín phần trăm học giả trên thế giới về tiếng Hy Lạp và những ai liên quan đến việc dịch Kinh Thánh đều không đồng ý với JW. Bất cứ ai muốn tìm kiếm sự thật phải biết điều gì mà đại đa số các học giả tin tưởng. Người ta không nên để JW hướng dẫn sai lầm mà cuối cùng phải bước vào địa ngục.” ( Christian Research Newsletter, Walter R. Martin “ The New World Translation, 3:3 page 5 ).
Tiến sĩ John Ankerberg và Tiến sĩ John Weldon trong bài viết “ The New Wprld Translation of the Jehovah’s Witnesses” có ghi lại lời của tiến sĩ Mantey như sau: “ Khi tên tôi và quyển sách của tôi được nêu trong trang 744 của quyển The Kingdom Interlinear của JW để chứng minh với độc giả về cách dịch của họ, tôi có viết một bản công bố là hầu hết các học giả trên thế giới mà tôi biết, không có ai dịch giống như JW đã dịch trong câu Giăng 1:1, Nếu quán từ xác định “the” xuất hiện với cả hai chữ God và Word, thì chúng ta phải hiểu cả hai là một và cùng một ngôi. Nhưng khi Giăng viết “ The Word was with (the) God” (Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời), dụng ý của Giăng là muốn diễn tả sự phân biệt giữa Word và God , cả hai có hai ngôi riêng biệt. Rồi liền tiếp theo đó, Giăng viết “the Word was God ” nghĩa là cùng chung một gia đình, chung bản chất. Toàn bộ phúc âm của sứ đồ Giăng luôn luôn nói đến thần tánh của chúa Jesus luôn luôn ngang hành với Đức Chúa Cha. Giăng rõ ràng xác định Chúa Jesus đã có từ ban đầi, Chúa Jesus ở cùng Đức Chúa Trời và Chúa Jesus là Đức Chúa Trời. Tất cả mọi tạo vật đều từ Chúa Jesus mà có, không có vật chi hiện hữu mà không bởi Đấng Christ. Sứ đồ Giăng nói như vậy là quá đủ để chúng ta thấy đâu là sự thật.
Trong lá thư ngày 11 tháng 7, 1974 cho WBTS (Watchtower Bible and Tract Society) yêu cầu một sự xin lỗi công khai về sự liên tục trích dẫn tên ông và từ sách của ông một cách không chính xác và yêu cầu họ chấm dứt sử dụng quyển sách của ông. Trong lá thư đó, sau khi ông nêu lên nhiều ví dụ sai lầm, ông viết :
“ Khi thấy những dữ kiện đó, đặc biệt vì quý vị đã nêu tên tôi mà không chính xác, tôi yêu cầu quý ông chấm dứt sử dụng quyển sách của tôi “ A Manual Grammar of the Greek New Testament”. Và từ nay xin đừng dùng tên tôi hay sách của tôi cho bất cứ tài liệu ấn phẩm nào của quý vị.
“Đồng thời quý vị phổ biết tức khắc lời xin lỗi trên báo Tháp Canh vì các lời của tôi không liên quan đến việc không có quán từ trong câu Kinh văn Giăng 1:1. Trong phần mở đầu trong quyển sách của tôi có ấn định rằng” tác giải giữ bản quyền”. Nếu quý vị có được phép của ai để sử dụng quyển sách này của tôi, xin gời đến cho tôi. Nếu không có và không thi hành lời yêu cầu của tôi, quý vị sẽ nhận lãnh hậu quả không tốt. Kính chào Lulius Mantey.
Tiến sĩ Philip B. Harner là một học giả khác cũng bị JW dùng để chứng tỏ họ dịch đúng câu Kinh văn Giăng 1:1. Để chống trả lời phê bình của Van Buskirkm JW dùng một bài báo viết cho tờ Journal of Biblical Literature, của tiến sĩ Harner. Tuy nhiên ông Harner không những không ủng hộ cách dịch của NWT mà ông còn nhấn mạnh rằng ông chống lại lối dịch của JW. Chúng ta không cần nêu ra những chi tiết kỹ thuật, chúng ta chỉ cần biết tiến sĩ Harner rõ ràng xác nhận rằng câu kinh văn tiếng Hy lạp của Giăng 1:1 có một cấu trúc đặc biệt. Nếu viết là “ ho logos en theos” thì may ra có thể dịch The Word was a god ( Ngôi Lời là một thần). Tuy nhiên Giăng không viết như vậy. Giăng viết “ theos en ho logos” ( nếu dịch từng chữ ra tiếng Anh thì là God was the Word). Với cách hành văn này chỉ có một cách dịch duy nhất là Ngôi Lời là Đức Chúa Trời , như ngôi khác gọi là Chúa Cha. Ngôi Lời hiện hữu từ ban đầu, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Vì thứ tự của các danh từ được Giăng sử dụng, câu Kinh văn này chỉ có thể hiểu duy nhất là Ngôi lời là Đức Chúa Trời như Đức Chúa Cha.( đọc thêm sách của Robert M. Bowman, Jehovah’s Witnesses, Jesus Christ , and the Gospel of John, Grand Rapids, Baker Book House, 1989, trang 70-73 )
Một học giả khác cũng được JW nêu tên để ủng hộ bản dịch NWT là John McKenzie. JW dùng một đoạn tron câu văn để độc giả hiểu lầm quan điểm của ông về bản dịch này. Ông được xem như là người cho rằng NGÔI LỜI ( Chúa Jesus) thấp kém hơn Đức Giê-hô-va vì ông đã nói “ Ngôi lời là một thần linh” ( The word was a divine being). Watchtower biện luận rằng môt khi Chúa Jesus được ví như là một thần (divine being) thì Jesus phải thấp hơn Đức Chúa Trời. Tuy nhiên nhà giải kinh Robert Bowman đã l àm sáng tỏa điều này và bổ túc rằng: “ Trong cùng một trang đó, ông John McKenzie cũng đã gọi Giê-hô-va là một thần (a divine personal being). Như vậy, cả Đức Chúa Trời và Chúa Jesus đều được ông John McKenzie so sánh như là một “divine Being” nghĩa là Đức Chúa Trời và Chúa Jesus đối với ông McKenzie ngang bằng nhau. ( Xem Robert M. Bowman, Jehovah’s Witnesses, Jesus Christ , and the Gospel of John, Grand Rapids, Baker Book House, 1989, trang 80-81).
McKenzie cũng xác nhận rằng Chúa Jesus được gọi là Đức Chúa Trời trong Giăng 20:28 và Tít 2:13 và rằng đoạn Kinh văn Giăng 1:1-18 diễn đạt “sự tương quan giữa Đức Chúa Trời và Chúa Jesus Christ” ( xem R. Bowman, Why you should believe in the Trinity, Grand Rapids, Baker Book House, 1989, trang 95). Như vậy John McKenzie chống lại JW hơn là đồng ý với bản dịch NWT của JW.
NHỮNG THAY ĐỔI TRONG TÂN ƯỚC CỦA BẢN DỊCH NWT
Điều quan trọng nhất mà ai ai cũng thấy là trong bản NWT của JW, chữ “Giê-hô-va” được xuất hiện 237 lần trong khi đó hầu như tất cả bản dịch tiếng Anh khác không có chữ này trong bộ Tân Ước. Chữ Hy lạp KURIOS ( dịch sang tiếng Anh là LORD hay GOD là Đức Chúa Trời) trong Tân Ước đều được JW dịch là Jehovah (Giê-hô-va).
Giê-hô-va là tiếng ghép lại của hai chữ : YHWH là tên của Đức Chúa Trời và chữ ADONAI là Lord (Chúa) thành chữ YAHOVAH và chuyển sang tiếng Anh là Jehovah ( Giê-hô-va). Danh xưng này, như đã trình bày là chữ ghép của hai chữ nên thật sự không phải là tên của Đức Chúa Trời. Đây là một tên do lòai người đặt ra để nói đến Đức Chúa Trời. Chữ Giê-hô-va được dùng trong phần Cựu Ước và danh xưng này không được nhắc lại trong Tân Ước, ngay cả Chúa Jesus cũng không bao giờ nói đến chữ này khi Chúa Jesus nói đến Đức Chúa Trời. JW đã tự thay đổi bản Tân Ước trong mục đích biện hộ cho danh xưng của tổ chức của mình.
Tuy nhiên, JW không nhất quán trong cách dịch chữ Kurios này. Có khi JW dịch là Giê-hô-va, có khi dịch là Chúa tuỳ theo câu Kinh văn có hàm ý so sánh với Chúa Jesus hay không. Ví dụ trong câu Rô-ma 10: 9, chữ Kurios được dịch là Chúa . ( “Nếu miệng ngươi xưng Jesus là Kurios” ) trong khi đó câu 13, cũng chữ Kurios lại dịch là Giê-hô-va (Vì ai kêu danh Kurios thì được cứu).
Điều thứ hai là bản dịch NWT một cách có hệ thống đã thay đổi những chữ trong những câu Kinh văn nào nói đến Chúa Jesus như là Đức Chúa Trời hoặc những câu Kinh văn nào nói đến Đức Thánh Linh như là một Ngôi trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời vì những điều này trái ngược với giáo lý của JW
Sau đây là những thay đổi trong bản dịch NWT so chiếu với các bản dịch tiếng Anh khác hiện đang được sử dụng khắp thế giới.
Sáng Thế ký 1:2 : “ Spirit of God” được thay bằng “God’s active force” ( “Thần của Đức Chúa Trời” được JW thay bằng “ sinh hoạt lực của Đức Chúa Trời”) – JW từ chối giáo lý Ba Ngôi và JW không nhìn nhận Đức Thánh Linh là một trong ba ngôi Đức Chúa Trời . Theo JW, Đức Thánh Linh chỉ là một sinh hoạt lực của Đức Chúa Trời.
Xuất Ê-díp-tô-ký 3:14 “ I AM” được thay bằng “ I shall prove to be” ( TA LÀ được JW thay bằng “Ta sẽ chứng mình là ai” Sự thay đổi này có liên quan đến sự tự công bố danh xưng của Đức Chúa Trời với lời tự xưng Ta Là của Chúa Jesus trong Giăng 5:58. JW muốn phủ nhận Chúa Jesus là một Ngôi trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời.
Dân số ký 1:52 : “Under his own standard” thay bằng “ by his division by their armies” ( “ dưới bên ngọn cờ của mình” thay bằng “ theo đội ngũ của mình) Chữ Standard có nghĩ là ngọn cờ. JW cho rằng cây cờ là tượng trưng cho hình tượng, chào cờ là thờ hình tượng nên JW thay đổi câu Kinh văn theo giáo thuyết của JW.
NHỮNG CÂU KINH VĂN HOÀN TOÀN BỊ LỌAI BỎ TRONG BẢN DỊCH NWT.
1.Ma-thi-ơ 17:21 Nhưng thứ quỉ nầy nếu không cầu nguyện và không kiêng ăn thì chẳng trừ nó được.
2. Ma-thi-ơ 18:11: Vì Con người đã đến cứu sự đã mất.
3. Ma-thi-ơ 23:14: Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi làm bộ đọc lời cầu nguyện cho dài mà nuốt nhà đờn bà góa; vì cớ đó, các ngươi sẽ bị đoán phạt nặng hơn.
4. Mác 7:16 : Nếu ai có tai mà nghe, hãy nghe.
5. Mác 9:44: Đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết, và là nơi lửa chẳng hề tắt.
6. Mác 9:46: Đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết, và là nơi lửa chẳng hề tắt.
7. Mác 11:26 Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi.
8. Mác 15:28 Như vậy được ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng: Ngài đã bị kể vào hàng kẻ dữ.
9. Lu-ca 17:36 Hai người ở ngoài đồng, một người được rước đi, còn một bị để lại.
10. Lu-ca 23:17 (Số là đến ngày lễ, quan phải tha một tên tù cho dân.)
11. Giăng 5:4 vì một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao, làm cho nước động; lúc nước đã động rồi, ai xuống ao trước hết, bất kỳ mắc bịnh gì, cũng được lành.
12. Công vụ 8:37 Phi-líp nói: Nếu ông hết lòng tin, điều đó có thể được. Hoạn quan trả lời rằng: Tôi tin rằng Đức Chúa Jêsus Christ là Con Đức Chúa Trời.
13. Công vụ 15:34 Nhưng mà Si-la thì quyết ở lại thành An-ti-ốt.
14. Công vụ 28:29 Khi người nói xong, thì các ngươi Giu-đa đi ra, cãi lẫy cùng nhau dữ lắm.
NHỮNG CẦU KINH VĂN BỊ CẮT MẤT MỘT PHẦN.
1. Mác 16: 9-20 12 câu Kinh văn này bị tách ra khỏi phần chánh và ghi chú là có vài bản dịch có phần này và xem như là một kết luận ngắn.
2. Lu-ca 1:28 “Thiên sứ vào chỗ người nữ ở, nói rằng: Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi ”. Phần in chữ nghiêng bị cắt bỏ trong bản NWT.
4. Công vụ 24:6-8 “ cũng đã toan làm ô uế đền thờ, nên chúng tôi đã bắt nó và chúng tôi có muốn xử nó theo luật pháp chúng tôi. 7 Nhưng quản cơ Ly-sia đến, bắt nó khỏi tay chúng tôi cách hung bạo, 8 truyền lịnh cho các người kiện nó hãy đến hầu quan. Xin chính quan hãy tự tra hỏi hắn, thì sẽ biết được mọi việc chúng tôi đang kiện cáo”. Phần in chữ nghiêng bị cắt bỏ trong bản NWT
5. I Giăng 5:13 Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời. Phần in chữ nghiêng bị cắt bỏ trong bản NWT.
Trong những bài kế tiếp, chúng tôi sẽ lần lượt trưng dẫn những câu Kinh văn được dịch sai ý nghĩa khi chúng tôi trình bày về giáo lý về Ba Ngôi, Đức Thánh Linh là ai. T ạ i sao JW cho rằng Chúa Jesus là thiên sứ Mi-chê, 144,000 người là ai, sự cứu rỗi theo giáo lý của JW, tình trạng linh hồn bất diệt. (còn tiếp)