Tài Liệu

Đặc Trưng Của Người Báp Tít ?

Báp-tít Đại-đồng (General Baptist)
Báp-tít Đại-đồng (General Baptists) là tên gọi giáo phái có chung niềm tin đặc biệt về giáo lý đền tội – giáo lý dạy rằng sự chết của Đấng Christ cung ứng ơn cứu rỗi cho bất cứ ai nhăn danh Ngài mà hành đạo. Báp-tít Đại-đồng khởi phát tại Anh Quốc vào đầu thế kỷ 17. Niềm tin căn bản của Báp-tít Đại-đồng mang sắc thái Arminian

Hội thánh đầu tiên thuộc giáo phái này được thành lập vào năm 1609 tại Hòa Lan. Dẫn đầu phong trào này có Thomas Helwys và John Smyth (khoảng năm 1560-1612). Smyth thụ phong mục sư trong Giáo Hội Anh Quốc (Anglican) vào năm 1594 nhưng sau đó đã theo quan niệm Báp-tít vào năm 1609. Helwys là một lãnh đạo khá giả. Hai ông này qui tụ một số tín hữu trong miền Midlands và sau đó nhóm này di cư sang Amsterdam tại Hòa Lan vào năm 1607. Năm 1611 Helwys đư amột nhóm tín hữu trở lại Anh Quốc và thành lập hội thánh Báp-tít đầu tiên tại đây. Hai nhà lãnh đạo này đã cương quyết tranh đấu cho tự do tín ngưỡng của tất cả mọi người.

Arminianism is a school of soteriological thought in Protestant Christian theology based on the ideas of the Dutch theologian Jacobus Arminius.[1] Its acceptance stretches through much of mainstream, evangelical Protestantism. Due to the influence of John Wesley, Arminianism is perhaps most prominent in the Methodist movement.
Arminianism holds to the following tenets:

Anglicanism is a term which refers to the beliefs and practices of Christian churches which either have historical connections with the Church of England or maintain a liturgy compatible with it. The faith of Anglicans is founded in the Scriptures and the Gospels, the traditions of the Apostolic Church, the historic episcopate, and the early Church Fathers. Anglicanism, in its structures, theology, and forms of worship, is understood as a distinct Christian tradition representing a middle ground between Roman Catholicism and Protestantism or a via media (middle way) between these traditions. With over seventy-seven million members, the Anglican Communion is the third largest religious communion in the world, after the Roman Catholic Church and the Eastern Orthodox Churches.

Báp-tít Đại-đồng sau đó đã sang Hoa Kỳ nhưng không phát triển mạnh mẽ như Báp-tít Tuyển-dân (Particular Baptists), một giáo phái có quan niệm mang sắc thái Calvinistic
Quan niệm phóng khoáng của Báp-tít Đại-đồng không thể làm hài lòng Báp-tít Tuyển-dân cho nên khi Báp-tít Đại-đồng truyền giảng Báp-tít Tuyển-dân thường không thích tham dự. Wesley là người danh tiếng nhưng vì ông chịu ảnh hưởng Arminian nên nhóm Tuyển-dân không thân với ông.

Càng về sau Báp-tít Đại-đồng càng thêm phóng khoáng đến mức mang tên là Cơ Đốc Giáo Tự-do. Thanh Giáo (Quaker) trong thời gian này phát triển mạnh khi thu hút được khá nhiều người không còn thích sinh hoạt với Báp-tít Đại-đồng. Một số Hội Thánh Báp-tít Đại-đồng khác ngã theo quan niệm Nhất Vị Nhất Thể (Unitarianism) để phân biệt với Tam Vị Nhất Thể (Trinity).

Calvinism is a theological system and an approach to the Christian life that emphasizes the rule of God over all things.[1] Named after French reformer John Calvin, this variety of Protestant Christianity is sometimes called the Reformed Tradition, the Reformed Faith, or Reformed Theology.

The Religious Society of Friends, whose members are commonly known as Quakers, was founded in England in the 17th century as a Christian religious denomination by people who were dissatisfied with the existing denominations and sects of Christianity. Historians generally credit George Fox with being the principal co-founder or most important early leader.[1] The Society of Friends is counted among the historic peace churches.
Since its beginnings in England, Quakerism has spread to other countries, chiefly Wales, Scotland, Ireland, Australia, Bolivia, Costa Rica, Guatemala, Kenya, Peru, and the United States. The total number of Quakers is relatively small (approximately 350,000 worldwide),[2] although there are places, such as Pennsylvania (particularly Philadelphia); Newberg, Oregon; Greenleaf, Idaho; Richmond, Indiana; Friendswood, Texas; Birmingham, England; and Greensboro, North Carolina in which Quaker influence is concentrated. Unlike many other groups that emerged within Christianity, the Religious Society of Friends has tended away from creeds, and in modern times away from hierarchical structure.

Unitarianism is the belief in the single personality of God, in contrast to the doctrine of the Trinity (three persons in one God).[1] It is the philosophy upon which the modern Unitarian movement was based, and, according to its proponents, is the original form of Christianity. Unitarian Christians believe in the teachings of Jesus of Nazareth, as found in the New Testament and other early Christian writings, and hold him up as an exemplar. Adhering to strict monotheism, they maintain that Jesus was a great man and a prophet of God, perhaps even a supernatural being, but not God himself. Unitarians believe in the moral authority, but not necessarily the divinity, of Jesus. They do not pray to Jesus. Their theology is thus distinguishable from the theology of Catholic, Orthodox, mainline Protestant, and other Christian denominations, who hold the Trinity doctrine as a core belief.

Giám Lý (Methodism) do sự khởi xướng của John Wesley vào thế kỷ 18 cũng phát triển mạnh qua nỗ lực truyền giảng giữa vòng những công nhân, nông dân và người nô lệ. Dan Taylor, một tín hữu giám lý về sau đã lãnh đạo các nhóm tín hữu Báp-tít Arminian trong toàn vùng Lancashire và Midlands để thành lập Tân Liên Kết Báp-tít Đại-đồng (New Connexion of General Baptists) vào năm 1770. Đến năm 1798 giáo hội mới này thành lập được một học viện, về sau có tên là Midland Baptist College tại Nottingham. Sang năm 1817, giáo hội này có 70 giáo đường phần lớn trong vùng Midlands.
Liên Hiệp Báp-tít Anh Quốc (Baptist Union of Great Britain) thành lập vào năm 1812 không bao gồm Báp-tít Đại-đồng. Tuy nhiên, sau khi bị vị mục sư bảo thủ danh tiếng Charles Spurgeon hoài nghi giá trị của phương pháp giải kinh mới, nhóm này về sau đã cởi mở hơn. John Clifford, người đã chịu báp têm trong một thánh đường của Liên Hiệp Báp-tít Anh Quốc về sau trở thành Chủ Tịch của Liên Hiệp vào năm 1888. Dưới sự lãnh đạo của ông hai giáo hội Tân Liên Kết Báp-tít Đại-đồng (New Connexion of General Baptists) và Liên Hiệp Báp-tít Anh Quốc (Baptist Union of Great Britain) đã trở thành một giáo phái vào năm 1891. John Clifford là Chủ Tịch đầu tiên của Liên Hiệp Báp-tít Thế Giới (Baptist World Alliance) từ năm 1905 đến 1911.

Số tín hữu Báp-tít Đại-đồng theo quan niệm Arminian còn sót lại vẫn còn gìn giữ tính cách độc lập của họ trong khi một số khác chọn tên Cựu Liên Hiệp Báp-tít (Old Baptist Union). Tại Hoa Kỳ Báp-tít Đại-đồng cũng trở nên yếu kém trong khi Báp-tít Regular trở nên vững vàng.

Methodism is a group of Protestant Christianity. The Methodist movement traces its origin to the evangelistic teaching of John Wesley. It originated in 18th century Britain, and through vigorous missionary activity, spread throughout the British Empire, the United States, and beyond. Originally it appealed especially to workers, agricultural workers, and slaves. Theologically most Methodists are Arminian or sometimes moderately Calvinist, emphasizing that Christ accomplished salvation for every human being, and that humans must exercise an act of the will to be saved (as opposed to the traditional Calvinist doctrine of monergism); and low church in liturgy (although this varies greatly in individual chapels; the Wesleys themselves greatly valued the Anglican liturgy and tradition). There are also a number of Calvinistic Methodists in Wales. In 2006, Methodism claimed some seventy-five million members worldwide.

Two strains of Baptists emigrated from England to America — the General Baptists and the Particular Baptists. The near extinction of the General Baptists, coupled with the expansion of Particular Baptists, especially through the labors of the Philadelphia Baptist Association (org. 1707), probably gave rise to the Particulars becoming the Regular Baptists.

Ngày nay phần lớn các Hội Thánh Báp-tít Anh Quốc và Hoa Kỳ theo quan niệm Calvinistic dung hòa, nhằm kết hợp cả hai quan niệm: (1) Công ơn cứu chuộc của Đấng Christ rải rộng cho muôn người nhân danh Ngài mà sống đạo, hành đạo và (2) Thiên Chúa có toàn quyền trong công trình cứu chuộc và con người không thể chống lại thiên mệnh.
Những nhóm Báp-tít Đại-đồng ngày nay mang những tên khác nhau như Free Will Baptists, General Association of General Baptists, General Six-Principles Baptists, the Old Baptist Union, Separate Baptitsts với tổng số tín hữu khoảng 500 ngàn trên toàn thế giới.


Báp-tít Tuyển-dân (Particular Baptist)

Báp-tít Tuyển-dân còn có tên là Strict Baptists hoặc Strict and Particular Baptists. Ngoài ra Báp-tít Tuyển-dân cũng còn được gọi là Reformed Baptists do niềm tin đặt nơi ơn cứu chuộc dành riêng cho những người được tuyển chọn theo thiên định. Trong lịch sử có một số những tín hữu thuộc giáo phái Báp-tít Tuyển-dân không ngã hẳn theo lẽ đạo dự phần thông công (hiệp một thân trong Chúa) theo thiên định. Trong số đó có John Bunyan .

John Bunyan (November 28, 1628August 31, 1688), a Christian writer and preacher, was born at Harrowden (one mile south-east of Bedford), in the Parish of Elstow, England. He wrote The Pilgrim's Progress, arguably the most famous published Christian allegory. In the Church of England he is remembered with a Lesser Festival on 30 August. Bunyan had very little schooling (about 2-4 years). He followed his father in the Tarish Tinker's trade, and he served in the parliamentary army at Newport Pagnell (1644 - 1647); in 1649 he married a pious young woman, whose only dowry appears to have been two books, Arthur Dent's Plain Man's Pathway to Heaven and Lewis Bayly's Practice of Piety, by which he was influenced towards a religious life. He lived in Elstow till 1655 (when his wife died) and then moved to Bedford. He married again in 1659. In his autobiographical book, Grace Abounding, Bunyan describes himself as having led an abandoned life in his youth; but there appears to be no evidence that he was, outwardly at any rate, worse than the average of his neighbours: the only serious fault which he specifies is profanity, others being dancing and bell-ringing. The increasing awareness of his unbiblical life led him to contemplate acts of impiety and profanity, and to a vivid realisation of the dangers these involved. In particular he was harassed by a curiosity in regard to the "unpardonable sin," and a prepossession that he had already committed it. He continually heard voices urging him to "sell Christ," and was tortured by fearful visions. After severe spiritual conflicts he triumphed over this condition. By the grace of God he was redeemed of this former life and he became an enthusiastic and assured believer and was received into the Baptist church in Bedford by immersion in the River Great Ouse in 1653. In 1655 he became a deacon and began preaching, with marked success from the start.

Lịch Sử Hình Thành Báp-tít Tuyển-dân
Vào đầu thế kỷ 17 có hai nền thần học khởi phát tại Anh Quốc. (1) Báp-tít Đại-đồng (General Baptists) là tên gọi giáo phái có chung niềm tin đặc biệt về giáo lý đền tội – giáo lý dạy rằng sự chết của Đấng Christ cung ứng ơn cứu rỗi cho bất cứ ai nhăn danh Ngài mà hành đạo. Báp-tít Đại-đồng khởi phát tại Anh Quốc vào đầu thế kỷ 17. Niềm tin căn bản của Báp-tít Đại-đồng mang sắc thái Arminian. (2) Báp-tít Tuyển-dân tin rằng việc Đấng Christ chịu chết là để ban ơn cứu rỗi riêng cho một số người được tuyển chọn. Quan niệm này gần với quan niệm của Calvin. Thoạt đầu trong số những người theo quan niệm này có Benjamin Keach, Hanserd Knollys và William Kiffin.
Hiện nay Strict Baptists là hậu tự của Báp-tít Tuyển-dân. Họ chịu ảnh hưởng của phong trào Gospel Standard Strict Baptist trong thời William Gadsby (chết năm 1844), John Warburton (1776-1857) và John Kershaw. Nhóm này mang tên Strict Baptists là vì quan niệm hạn chế tư cách hội viên và dự phần thông công (membership and communion). Ngoài ra lại còn có một nhóm Báp-tít khác nữa không theo phong trào Gospel Standard Strict Baptist; nhóm này có tên là Grace Baptist (Báp-tít Thiên Ân). Nói chung phần lớn các tín hữu Báp-tít Tuyển-dân không chủ trương ai dự phần ân điển và dự phần thông công cũng được. Có một ngoại lệ là trường hợp của John Bunyan.

Calvin Cao Độ
Trong thế kỷ 18 Báp-tít Đại-đồng ngã theo thần học tự do và trên thực tế dần dà tàn lụi tại Anh Quốc. Trong khi đó Báp-tít Tuyển-dân dưới ảnh hưởng của John Brine và John Gill càng lúc càng có khuynh hướng Calvin cao độ. Tài liệu tiêu biểu của Calvin Cao Độ là tuyển tập Exposition of the Whole Bible của John Gill (1696-1771)

Fullerites
Đến cuối thế kỷ 18, vào năm 1785 Andrew Fuller (1754-1815) xuất bản The Gospel Worthy of All Acceptation. Tài liệu này lay chuyển Báp-tít Tuyển-dân tại Anh Quốc. Đứng chung với Andrew Fuller có William Carey (1761-1834), người sang Ấn Độ truyền giáo, và C. H. Spurgeon. Khuynh hướng Calvin ôn hòa của Fuller được nhiều người trong nhóm Báp-tít Tuyển-dân hưởng ứng. Vào năm 1891 hầu hết những người thuộc nhóm Báp-tít Đại-đồng đều sát nhập với Báp-tít Tuyển-dân trong tổ chức đã được thành lập từ năm 1813 với tên gọi Liên Hiệp Báp-tít Anh Quốc (Baptist Union of Great Britain). Liên Hiệp Cựu Báp-tít (Old Baptist Union) đại diện cho một nhóm nhỏ Báp-tít Đại-đồng không tham dự Liên Hiệp Báp-tít  Anh Quốc.


Strict Baptists Tại Anh Quốc:
Strict Baptists là những người chủ trương tín lý Calvin Cao Độ. Họ sinh hoạt biệt lập, khép kín. Nhóm này có thể ví sánh như nhóm Báp-tít Sơ Khai (Primitive Baptists) tại hoa Kỳ. Lãnh đạo nhóm này có (1) William Gadsby (1773-1844), người đã đúc kết Tuyển Tập Thánh Ca Thờ Phượng Chung (A Selection of Hymns for Public Worship) hiễn vẫn còn lưu hành trong một số hội thánh ngày nay, (2) John Warburton (1776-1857); (3) John Kershaw (1792-1870); Edward Mote (1797-1874), tác giả “On Christ the Solid Rock I Stand”; và J. C. Philpot (1802-1869).
Nhóm Strict Baptists không có cơ cấu trung ương. Họ thường được gán cho những danh xưng khác nhau theo nhật báo hoặc những văn phẩm xuất bản định kỳ mà họ ủng hộ, trong đó có Christian Pathway, Earthen Vessel, Gospel Herald và Gospel Standard. Các nhóm Strict Baptists được gọi bằng những tên khác nhau trên đây về sau kết hiệp lại trong với tổ chức mang tên Grace Baptist Assembly vào năm 1980. Tổ chức này có cả thảy ba giáo hạt trong cùng một giáo hội có tên The Fellowship of Northern Particular Baptist Churches: (1) Association of Grace Baptist Churches miền East Anglia, (2) Associatin of Grace Baptist Churches miền East Midlands, và (3) Association of Grace Baptist Churches miền Southeast.    
Trong vòng những Hội Thánh Báp-tít Tuyển-dân có nhóm Gospel Standard Strict Baptist không chịu theo khuynh hướng Calvin ôn hòa của Fuller. Họ còn có tên là Gadsbyites vì cớ họ ở dưới ảnh hưởng của William Gadsby. Trong thời gian gần đây lãnh đạo của nhóm này là B. A. Ramsbottom, chủ bút của Tạp Chí Gospel Standard Magazine kể từ năm 1971.


Strict Baptists Thời Nay
Thống kê năm 1995 cho biết Grace Baptist Assembly có hơn 10.000 tín đồ trong 260 hội thánh, Gospel Standard Strict Baptists có 6.400 tín đồ trong 156 hội thánh tại Anh Quốc và thêm 3 hội thánh tại Hoa Kỳ và ba hội thánh tại Úc Châu. 

 

  • Báp-tít Cải-chánh
  •  
  • Danh xưng Báp-tít Cải-chánh vừa được dùng để gọi tên một hệ phái Cơ Đốc, vừa được dùng để nói đến một khuynh hướng thần học. Những tín nhân thuộc giáo phái này gắn bó với Tuyên Ngôn Niềm Tin Báp-tít (Baptist Confession of Faith) năm 1644 và năm 1689. Giáo phái này xuất xứ từ Báp-tít Tuyển-dân và Fullerites Anh Quốc.
  • Niềm Tin
Các hội thánh Báp-tít Cải-chánh thường gắn bó với Tuyên Ngôn Niềm Tin Báp-tít được công bố vào năm 1644 và 1689 tại Luân Đôn. Hai tuyên ngôn


(Xin đọc trang tiếp)

 

More on: bptt and trong
Content copied by FREE Go FTP Client