Khoa Học và Niềm tin
TIẾN HÓA & TẠO HÓA

Kỹ sư Nguyễn Ngọc Loan

Khoa Học và Niềm tin
TIẾN HÓA & TẠO HÓA
Kỹ sư Nguyễn Ngọc Loan

Bạn đọc thân mến! Vì sao nguời ta khủng bố đạo Chúa, tín đồ và mục sư. Bởi vì người ta không tin có Trời, có Chúa. Bất chấp mọi bằng chứng về một Đấng Tạo Hóa trong thiên nhiên và sự cảnh cáo của lương tâm, người ta ẩn nấp sau thuyết Tiến Hóa để ức hiếp những người có niềm tin. Phải chăng thuyết tiến hóa có cơ sở khoa học và là phương tiện duy nhất để giải thích nguồn gốc muôn vật. Sau đây là một loạt bài viết giúp những người đang hăng say đi đánh “giặc Trời” tỉnh ngộ và thay đổi chiến tuyến. Bài viết này dựa trên một cuộc hội thoại giữa một bà Giáo sư và một ông Mục sư bất đắc dĩ phải ngồi cạnh nhau trên một chuyến bay từ Mỹ qua Úc.

PHAÀN I
Bà Giáo sư: Thuyết tiến hóa là một giả thuyết dùng để giải thích nguồn gốc sinh vật trên thế gian. Theo thuyết ấy. người ta nói rằng cách đây 3.5 tỷ năm trên quả đất không có sự sống. Một ngày kia có một số chất hóa học trong đại dương hiệp lại với nhau một cách tình cờ, trở nên tế bào sống đầu tiên. Sau đó một tế bào đơn trở nên tế bào kép, tế bào kép trở nên loài vật không xương sống phức tạp hơn, như con bọ ba thùy, con sứa, con giun. Rồi một loài không xương sống sót qua sự biến đổi môi trường khắc nghiệt, trở nên loài có xương sống như loài cá, tiếp đó loài cá trở nên loài ếch nhái, bò sát, chim và thú. Cuối cùng một loài thú cao đẳng biến đổi dần dần trở thành loài người. Bản thân con người cũng đang ở trên con đường tiến hóa lên một loài siêu đẳng hơn. Tất cả xảy ra qua quá trình đột biến một cách tình cờ và chọn lọc tự nhiên. Con nào khỏe con ấy sống, chứ chẳng do Đấng nào tạo ra hay nuôi dưỡng chúng cả. Đây là khoa học chính xác chứ không phải tín ngưỡng mà những người như các ông lợi dụng để giấu diếm sự dốt nát của mình v.v....
1. Thuyết tiến hóa và định luật Nhiệt Động Lực thứ hai
Ông Mục sư: Trong thực tế, một chiếc xe không được chăm sóc sẽ trở nên một đống sắt rỉ lẫn lộn với một mớ cao su lão hóa và bãi xăng nhớt vô dụng. Một ngôi nhà không được sửa sang, sớm muộn cũng sẽ bị hư hại. Một sinh vật, dù sống lâu đến đâu cũng trở nên già cỗi, bệnh tật và chết dần v.v... Đó là nguyên tắc Êntropi (entropy) hay còn gọi là định luật Nhiệt Động Lực thứ hai: Mọi quá trình biến đổi xảy ra trong tự nhiên đều theo chiều đi xuống và thoái hóa, từ tình trạng cấp cao xuống tình trạng cấp thấp, từ trật tự xuống hỗn loạn, từ năng động xuống "thụ động" ...
Thế mà thuyết tiến hóa lại nói rằng vũ trụ và sinh vật đang được biến đổi theo chiều hướng phát triển, từ cấp thấp lên cấp cao, từ đơn giản lên phức tạp, từ hỗn độn lên trật tự, từ tình trạng thụ động lên tình trạng năng động v.v... Vậy thuyết Tiến hóa có hợp lý hay không ?
Chúng ta biết "năng lượng không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi, nó chỉ biến từ dạng này sang dạng khác" (theo định luật bảo toàn năng lượng) và "trong quá trình biến đổi, năng lượng càng ngày càng trở nên ít hữu dụng hơn" (theo định luật nhiệt động lực thứ hai). Vậy ngay từ đầu đã phải có năng lượng và năng lượng ban đầu là năng lượng toàn hảo. Ngày nay chúng ta chỉ có được năng lượng cấp thấp, thoái hóa theo quá trình Êntropi. Muốn tồn tại (hoặc muốn đi nguợc quá trình thoái hóa, biến đổi từ dạng thấp cấp thành dạng cao cấp hơn), vật chất đòi hỏi nguồn năng lượng bên ngoài. Vậy nguồn năng lượng đầu tiên đến từ đâu ? Nguồn năng lượng nào tiếp trợ, bảo trì sự sinh tồn, vận chuyển của các tinh tú, của tinh thể và của thế giới hữu sinh ... do ai đưa đến. Thật chúng ta không thể trả lời được nếu từ chối một Đấng Quyền Năng lớn hơn cả vũ trụ. Ngài không những đã cung cấp năng lượng cho thế giới tốt đẹp ban đầu nhưng còn gìn giữ nó cho đến ngày hôm nay bởi quyền năng của Ngài. Định luật nhiệt động lực học thứ hai chứng minh cho thuyết tạo hóa và làm cho thuyết tiến hóa trở nên phản khoa học.
2. Thuyết tiến hóa và mô hình "tổ hợp tối thiểu"
Bà Giáo sư: Ông nói về các định luật nhiệt động lực cũng có lý, nhưng qua hàng tỷ năm lịch sử của Trái Đất chắc phải có sự may rủi, mà khoa học không giải thích được, xảy ra chứ. Chúng tôi cho rằng cách đây 3,5 tỷ năm, một số nguyên tử hóa chất kết hợp lại một cách tình cờ tạo nên sinh vật đầu tiên dưới dạng tế bào đơn giản (single cell). Rồi theo quá trình biến đổi và chọn lọc tự nhiên, tế bào đơn giản ấy dần dần trở nên sinh vật phức tạp như con người ngày nay.
Ông Mục sư: Chắc bà cũng có biết về mô hình "tổ hợp tối thiểu" ?
Bà Giáo sư: Tôi biết chứ. Một tổ hợp tối thiểu, nói cách khác là một bộ máy không thể làm đơn giản hơn. Nó gồm một số thành phần cơ bản với các chức năng khác nhau, mỗi thành phần được chế tạo và lắp ráp một cách đặc biệt để chúng làm việc cùng nhau cho một mục đích chung. Thiếu bất cứ một thành phần căn bản nào, bộ máy đó không thể hoạt động được. Ví dụ đơn giản nhất như chiếc kính lão của tôi đây, gồm có mắt kính, gọng kính và bản lề. Thiếu mắt kính, chiếc kính chẳng qua là đồ trang sức. Thiếu bản lề, mắt kính và gọng kính không thể cộng tác với nhau. Bản thân bản lề cũng lại là một tổ hợp tối thiểu gồm có hai cánh và một trục bản lề. Chiếc xe đạp của con tôi cũng là một ví dụ về tổ hợp thối thiểu, ít nhất nó phải có ghi-đông, khung xe, bánh xe, yên, bàn đạp và xích. Nếu nói về xe một bánh của chàng hề ở rạp xiếc, nó phải có khung, yên, bánh xe và bàn đạp. Nhưng ông muốn dùng mô hình tổ hợp tối thiểu để chứng minh điều gì ?
Ông Mục sư: Chúng ta hãy nghiên cứu chiếc kính lão của bà. Ngay từ đầu thợ kính đã phải thiết kế, chế tạo gọng, bản lề và mắt kính. Cho dù cái kính đầu tiên không có bản lề, sau này người ta cho nó cái bản lề để tiện sử dụng, sự thêm thắt này không phải ngẫu nhiên xảy ra nhưng do sự chủ ý của người sáng tạo.
Bà có thể sắp xếp chiếc xe đạp một bánh, hai bánh, xe gắn máy, xe hơi, xe hơi lội nước, xe hơi có cánh (máy bay) v.v... theo chiều hướng ngày càng phức tạp để chứng minh cho sự tiến hóa của các phương tiện giao thông. Thực ra mỗi một chiếc xe kể trên đều được thiết kế, chế tạo và sử dụng, một cách riêng biệt tùy theo ý của kỹ sư và người dùng.
Bà Giáo sư: Tôi có thể nói rằng xe gắn máy "tiến hóa" từ xe đạp được không ?
Ông Mục sư: Không được đâu. Tuy xe đạp và xe máy có những chi tiết giống nhau, như ghi-đông, khung, yên, xích và bánh, nhưng xe đạp không có máy nổ và xăng. Bản thân máy nổ lại có xy lanh, pít tông, trục khủy, bu-zi, bình điện và bộ chế hòa khí v.v... phức tạp lắm. Vậy máy nổ "tiến hóa" từ bộ phận nào của xe đạp ? Bằng cách gì ? Nếu có người nói rằng xe máy "thoái hóa" thành xe đạp, điều đó "có lý" hơn, vì khi máy hư, xăng nhớt quá đắt nên chủ nhân có thể tháo bỏ máy nổ đi. Tuy nhiên, để có thể sử dụng xe máy như xe đạp họ lại phải chế thêm bàn đạp. Khác với xe đạp, bánh răng ở trục giữa của xe máy nhỏ hơn bánh răng ở trục sau, Người đạp sẽ phải đạp "nhanh như máy" thì xe mới nhúc nhích. Vậy nếu không được thiết kế hợp lý ngay từ đầu, sự cải tiến trên sẽ cho chúng ta một phương tiện vận chuyển cọc cạch, gần như là vô dụng. Tóm lại trong tất cả những vật dụng hàng ngày của chúng ta, từng bộ phận cũng đã được thiết kế, sản xuất, lắp ráp đúng hình dạng, kích thước một cách đặt biệt như trên bản vẽ, để toàn bộ hệ thống có thể hoạt động một cách hài hòa, đúng mục đích của người chế tạo và sử dụng.
Bà Giáo sư: Vậy ông muốn chứng minh điều gì ở đây ?
Ông Mục sư: Cơ thể sinh vật phức tạp hơn máy móc rất nhiều. Chúng ta hãy tạm nghiên cứu một tế bào đơn giản nhất là tế bào sống đầu tiên được hình thành do một sự kết hợp tình cờ giữa các hóa chất. Mỗi một cơ thể dù chỉ là một đơn bào đều là một tổ hợp tối thiểu. Khác với phân tử không có sự sống, tế bào đầu tiên phải có ít nhất năm chức năng sau đây:
1. Khả năng tiếp thụ năng lượng từ môi trường để nuôi dưỡng bản thân,
2. Khả năng bài tiết,
3. Khả năng bảo vệ cơ thể (như điều hòa nhiệt độ),
4. Khả năng sinh sản để lưu truyền thế hệ đời sau và cuối cùng
5. Một hệ thần kinh điều khiển toàn bộ cơ thể.
Một số tế bào còn có khả năng tự di chuyển nữa. Thiếu một trong năm khả năng ấy, tế bào không thể tồn tại được. Những chi thể tối thiểu để thoả mãn các chức năng ấy phải tồn tại và hoàn chỉnh ngay từ thời buổi ban đầu chứ không phải được hình thành trong quá trình đột biến và chọn lọc qua nhiều thế hệ. Nếu không có khả năng tiếp thu năng lượng, tế bào ấy không có sự sống. Nếu nó có khả năng hấp thụ năng lượng mà khả năng bài tiết chưa được hình thành, nó sẽ bị ngộ độc mà chết. Nếu các khả năng trên đã có, nhưng tế bào đầu tiên không thể tự bảo vệ mình, nó sẽ bị tiêu diệt bởi các chất hóa học xung quanh, bởi ánh sáng, nhiệt độ môi trường ... Cuối cùng giả sử tế bào đầu tiên rất chi là hoàn hảo nhưng cơ chế sinh sản di truyền chưa có thì nó làm sao có thể duy trì nòi giống mình được cho đến ngày hôm sau ?
Tế bào đầu tiên tưởng đơn giản nhưng rất phức tạp. Nó đặc trưng cho một tổ hợp gồm nhiều chi tiết hoạt động hài hòa với nhau vì một mục đích chung. Dù thô sơ đến đâu, ngay từ đầu nó đã là sản phẩm của một Trí Tuệ và Tài Năng vô hình chứ không thể nào hình thành qua một sự đột biến ngẫu nhiên như các nhà tiến hóa lầm tưởng.
Cơ thể con người là một tổ hợp phức tạp của các chi thể. Mỗi chi thể lại là một tổ hợp phức tạp của các tổ hợp của các tế bào. Chúng ta hãy coi một cuốn phim quay chậm về các động tác của một thủ môn. Khi cặp mắt của anh phát hiện trái banh được đá tới với tốc độc 100 km/h từ khoảng cách 15 mét, bộ óc của anh ta sẽ tính toán đường bay và quán tính của trái banh, sự xô đến của các cầu thủ khác, khoảng cách giữa anh và khung thành, độ cao mà anh sẽ phải ngã xuống v.v... Sau đó anh lấy một hơi thở sâu, chân nhảy lên, tay vươn ra, các ngón tay xòe rộng, người lượn vòng trong không trung, xoay ngang rồi hạ xuống sân cỏ với trái banh nằm chắc chắn trong lòng. Cùi chỏ hoặc gót chân của anh còn hướng về mặt của tiền vệ đội bạn nữa. Tất cả mọi chi tiết ấy chỉ xảy ra trong nháy mắt. Tất cả mọi hoạt động là một sự phối hợp của toàn bộ các chi thể của con người. Trước hết, hình ảnh trái banh được tiếp nhận bởi 137 triệu tế bào quang học nằm trên võng mạc ở phía sau một hệ thống "ống kính" tự động điều chỉnh tiêu điểm, cường độ ánh sáng, phức tạp hơn bất cứ máy chụp hình hiện đại nhất của loài người. Mỗi tế bào của mắt có thể phát hiện được một phân tử ánh sáng trong phòng tối và phân tích các dữ kiện quang học với tốc độ 10 tỷ phép tính một giây. Các dữ kiện được chuyển tới bộ não qua hàng tỷ sợi dây thần kinh. Các tế bào não lại tính toán và điều khiển các cơ chế khác của thân thể như tay, chân, tim, phổi thực hiện những động tác chính xác và hiệu quả, tương tự như các động tác mà thủ môn đã luyện tập hoàn hảo và được ghi lại trong trí nhớ. v.v... Ai đã làm ra các tế bào của mắt, não, dây thần kinh và bắp thịt và khiến chúng làm việc với nhau một cách tinh vi như vậy ?
Con mắt của con người còn có khả năng điều chỉnh quang sai. Các nhà khoa học đã thiết kế một chiếc kính đặc biệt, khi đeo vào người ta sẽ thấy hình ảnh lộn nguợc. Tuy nhiên sau khi đeo một thời gian, hệ thống quang học của mắt và hệ thần kinh tự động biến hình ảnh nhận được quay xuôi lại như không có chuyện gì xảy ra. Người ta còn đeo chiếc kính đặc biệt này để đi mô tô nữa. Thật kỳ diệu.
Chính bản thân Đác-uyn, cha đẻ của thuyết tiến hóa cũng phải thú nhận như sau: "Con mắt có những cơ chế không thể bắt chước được, như hệ thống điều chỉnh tiêu cự tự động, điều chỉnh cường độ ánh sáng, điều chỉnh quang sai và phân biệt màu sắc. Nếu có ai nói rằng con mắt được hình thành trong một quá trình chọn lọc tự nhiên một cách tình cờ, may rủi, thì tôi phải thành thật lên tiếng: "… ấy thật là điều vô lý, lố bịch ở mức độ cực điểm."
Các chi tiết của chiếc đồng hồ không thể tự nó chế tạo mình, từ vật liệu sơ khởi trở nên những cơ cấu thích hợp với chức năng đặc biệt của nó trong guồng máy phức tạp. Chúng cũng không tự nhiên lắp ráp mình với các chi tiết khác theo đúng các nguyên tắc cơ khí, thời gian và thẩm mỹ để trở nên chiếc đồng hồ hữu dụng. Chúng nó cần có trí tuệ và bàn tay khéo léo của người thợ đồng hồ. Vậy, mọi sinh vật trên thế gian này còn phức tạp gấp hàng triệu lần so với chiếc đồng hồ tinh xảo nhất, chúng không thể tự nhiên sinh ra, biến dạng và tiến hóa nhưng cần có trí tuệ và bàn tay phi thường của một Đấng Sáng Tạo.
PHAÀN II
1 - Thuyết tiến hóa và toán học
Ông Mục sư: Thử hỏi thiên nhiên cần phải có bao nhiêu thời gian để mày mò thí nghiệm và khám phá một sự sắp xếp thích hợp giữa các bộ phận của một cơ thể con người, hầu cho các bộ phận ấy có thể hoạt động hài hòa với nhau theo mô hình "tổ hợp tối thiểu".
Bà Giáo sư: Lâu lắm, Chính vì vậy mà “Mẹ Thiên Nhiên” cần đến 3,5 tỷ năm để sinh vật tiết hóa thành con người ngày nay.
Ông Mục sư: 3.5 năm hay 30 tỷ năm cũng chưa đủ đâu. Bà hãy kiên nhẫn để cùng tôi tính toán xác suất thành công của việc lắp ráp bộ xương người, gồm có 200 chiếc xương riêng rẽ với kích thước, hình thù khác nhau. Chúng được gắn bó và cộng tác với nhau nhằm mục đích trên hết là làm khung cho cơ thể con người. Chúng ta thử tìm cách lắp một bộ xương người một cách tình cờ. Chúng ta hãy đổ 200 chiếc xương vào trong một chiếc hộp lớn của “chiếc máy lắp xương” làm việc theo nguyên tắc "lúc lắc rồi đổ ra" (như chơi súc sắc). Vậy chiếc máy đó phải lắc rồi đổ ra bao nhiêu lần để chúng ta có được một bộ xương người hoàn chỉnh hoạt động đúng chức năng của từng bộ phận nói riêng và của cả cơ thể con người nói chung ?
Nếu cơ thể chỉ có một chiếc xương thì chúng ta chỉ có một khả năng liên kết. Nếu cơ thể có hai chiếc xương (a,b) chúng ta chỉ có hai khả năng (1x2) (ab, ba) liên kết. Nếu cơ thể có 3 chiếc xương (a,b,c) chúng ta có 6 khả năng liên kết (1x2x3) (abc, acb, bac, bca, cab, cba) và xác xuất tìm ra khả năng liên kết thích hợp là 1/6. Vậy nếu cơ thể có 200 chiếc xương, chúng ta có (1x2x3x...x199x200) hay 200! (giai thừa 200) khả năng liên kết. Xác xuất tìm ra khả năng kiên kết thích hợp là 1/200! Bà có biết 200! là bao nhiêu không: 10375 tức số mười với 375 số không đứng đằng sau. Khả năng tìm được một sự liên kết thích hợp là 1/10375, tương đương với zê-rô tuyệt đối.
Giả sử chiếc máy lắp xương của chúng ta lắc một lần trong một giây, thì từ thời nguyên thủy của vũ trụ cho đến nay (theo giả thiết khoa học khoảng 30 tỷ năm), máy lắp xương của chúng ta mới lắc được 1018 lần. Chúng ta còn phải lắc 10375-18 = 10357 lần nữa mới tìm ra được một hệ xương hợp lý cho cơ thể chúng ta. Nếu chiếc máy lắp xương có thể lắc 1 tỷ lần trong một giây, thì kể từ thủa ban đầu của vụ trụ đến nay nó mới lắc được 109x 1018=1027, nó vẫn còn phải lắc 10330 lần nữa.
Chúng ta thấy rằng xác suất "trúng số" theo cách đột biến, tình cờ để lắp đúng một hệ thống 200 khúc xương trong bộ xương con người là con số không. Ấy là chưa nói đến những chi thể phức tạp hơn như con mắt, bộ não hay hệ DNA trong mỗi một tế bào. Dù thiên nhiên có mày mò thí nghiệm, kiên nhẫn mấy chăng nữa, xác xuất toán học và tuổi của trái đất cũng không cho phép điều đó xảy ra. (còn tiếp)

NHỮNG THÁCH ĐỐ CHO KHOA HỌC
Sau đây mời quý vị tham khảo bài viết của Nguyễn Tiến Vởn theo Tia sáng.--------------------------------------------------http://vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2004/02/3B9CF888/
Những gì thuộc về khoa học thường đối nghịch với tôn giáo. Song, cũng có nhiều nhà khoa học lớn tin rằng Thượng đế đã sáng tạo ra vũ trụ và con người. Họ thành lập Hiệp hội các nhà khoa học tin vào sự sáng tạo, và dựa vào chính những nghiên cứu của mình để chứng minh cho niềm tin đó.
Trong số những vấn đề chính mà họ đưa ra có: Nguồn gốc sự sống và thuyết tiến hóa trong sinh học; Đại hồng thủy - truyền thuyết hay sự thật; Chúng ta đang ở đâu trong vũ trụ; Bí hiểm của biểu tượng ngôn ngữ và vấn đề tồn tại khách quan.
1- Nguồn gốc sự sống và thuyết tiến hóa trong sinh học
"Sự sống trên trái đất sinh ra từ đâu ?" là câu hỏi có lẽ xa xưa như chính lịch sử con người. Tín đồ Thiên chúa giáo đương nhiên cho rằng Chúa Trời tạo ra sự sống trên trái đất. Ngược lại, các nhà khoa học vô thần không bao giờ tin vào một Chúa Trời mà con người không hề nhìn thấy, mô tả và chứng minh là có được.
Theo thuyết tiến hóa của Darwin, sự sống trên trái đất bắt đầu từ "sự không sống". Nói cách khác, vật chất sống (hữu cơ) được sinh ra từ sự tương tác ngẫu nhiên của vật chất vô cơ, là loại vật chất không sống hay vô sinh. Thoạt đầu, trên trái đất chỉ toàn chất vô cơ, không hề có mặt bất cứ vật chất hữu cơ nào, dù với cấu trúc hóa học đơn giản nhất. Các chất vô cơ ngẫu nhiên kết hợp với nhau thành những phức hợp hóa học ngày càng phức tạp, rồi đến một thời điểm (khoảng 3-4 tỷ năm trước) đại phân tử hữu cơ có chứa cả 4 nguyên tố, carbon, hydro, oxy và nitơ - phân tử protein đầu tiên, ra đời. Với cấu trúc bậc 4 (cấu trúc không gian), chất protein có một khả năng đặc biệt mà chất vô cơ không có được đó là trao đổi chất. Sự sống đầu tiên hình thành.
Với khả năng trao đổi chất, và sau hàng tỷ năm tiến hóa, chất protein trải qua một quá trình tự tổ chức đã hình thành một cơ thể hoàn chỉnh đầu tiên, gồm 1 tế bào sống, tương tự tế bào vi khuẩn mà ta biết ngày nay. Hàng tỷ năm nữa trôi qua, các cơ thể đơn bào phát triển thành đa bào, rồi cứ thế, cơ thể sống ngày càng trở nên phức tạp tinh vi cho đến khi đạt được trình độ rất cao của quá trình tiến hóa thì con người ra đời. Từ lâu, học thuyết tiến hóa đã được coi là một mẫu mực khoa học dùng để giải thích hiện tượng khách quan và phổ biến đến mức mọi học sinh phổ thông trung học cũng hiểu được nó, chí ít ở mức sơ lược nhất: sự sống bắt nguồn từ thế giới vô cơ. Ngược với thuyết tiến hóa, các nhà khoa học theo thuyết sáng tạo cho rằng không thể có một sự tiến hóa ở bậc vĩ mô (tức toàn sự sống). Và tất nhiên không thể có chuyện sự sống bắt đầu từ việc kết hợp ngẫu nhiên các nguyên tố trong thế giới vô cơ. Họ dựa vào các lập luận sau:
Thứ nhất, khả năng thế giới vô cơ ngẫu nhiên kết hợp với nhau để thành vật chất sống (protein) là không có, cho dù các nhà theo thuyết tiến hóa lập luận "có thể được với cả tỷ năm trời".
Cứ ước tính (khá lỏng) rằng toàn bộ vũ trụ chứa 1080 nguyên tử, số tương tác giữa các nguyên tử trong một giây cho một nguyên tử là 1012 (một nghìn tỷ tương tác trong một giây) và tuổi của vũ trụ là 1018 giây (tương đương 30 tỷ năm, trong khi đa số các nhà thiên văn học cho rằng con số đó khoảng 15 tỷ năm). Vậy, tổng số các phản ứng có thể xảy ra kể từ khi vũ trụ ra đời, trong toàn bộ khoảng không là 10110. Bây giờ hãy bắt đầu với một cơ thể sống đơn giản nhất, cơ thể đơn bào hay tế bào vi khuẩn. Một tế bào vi khuẩn đơn giản nhất cũng cần tối thiểu khoảng 1.000 loại protein. Để đơn giản hóa, cứ coi đã có sẵn 999 loại, chỉ cần một phân tử protein cuối cùng nữa là ta có một tế bào sống. Mặc dù trong thiên nhiên có cả trăm loại axit amin, là “viên gạch” có thể xây dựng “bức tường protein”, nhưng hãy chỉ lấy 20 loại, là số lượng mà khoa học hiện tại đã đoan chắc tìm thấy trong cơ thể sống. Cũng lại cho qua một thực tế là chỉ những axit amin “đối xứng tay trái” mới có thể dùng được để xây bức tường sống. Và cũng không tính đến một thực tế là, do các động thái hóa học rất đặc biệt, để tạo ra một chuỗi polypeptid (một mẩu nhỏ của phân tử protein) ở môi trường ngoài cơ thể sống là việc cực kỳ khó khăn. Bây giờ hãy tập trung vào khả năng kết hợp ngẫu nhiên để có được một phân tử protein cuối cùng gồm 200 axit amin, một số lượng rất khiêm tốn. Các bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm đã chứng tỏ rằng, để protein có được cấu trúc ba chiều (là điều kiện tiên quyết để nó thực hiện chức năng sống), ít nhất một nửa trong tổng số các điểm nối giữa các axit amin phải được xác định theo một trình tự nhất định. Như vậy phân tử protein cuối cùng cần ít nhất 100 “điểm kết nối xác định”. Tổ hợp các kết hợp giữa 20 axit amin với 100 điểm kết nối xác định đạt đến con số 20100 hay 10130, các phản ứng ngẫu nhiên. Chưa nói đến thời gian và số lượng phản ứng cần thiết cho việc tạo ra các axit amin, thì tổng số các phản ứng ngẫu nhiên này đã lớn hơn 100 tỷ tỷ (1020) lần tổng số các phản ứng có thể có giữa các nguyên tử trong toàn bộ vũ trụ, kể từ khi nó ra đời đến nay (10110).Đấy mới chỉ là 1 trong số hàng nghìn protein cần thiết cho cơ thể sống ban đầu.
Thứ hai, còn hắc búa hơn nữa cho các nhà theo thuyết tiến hóa là cấu trúc ADN, được coi là phần tinh túy nhất của sự sống. Bỏ qua chuyện tuổi vũ trụ có tương đương với thời gian cần thiết tối thiểu để tạo ra ADN đầu tiên hay không (mà chắc chắn theo bài toán xác suất trên, quả là không thể xảy ra được), ta tập trung vào một khía cạnh khác khi nói đến cấu trúc sống này. Mỗi một chuỗi đơn ADN là một đại polymer gồm hơn 1 tỷ phân tử. Khoảng một phần ba (333 triệu) trong số đó được chương trình hóa bằng 1 trong 4 bazơ nitơ. Theo luật kết hợp ngẫu nhiên của thuyết tiến hóa, sẽ có khoảng 122 x 1032 cấu trúc ADN có thể có. Lại giả thuyết chỉ cứ 1 tỷ cấu trúc như vậy mới có một là có khả năng tạo ra sự sống, số còn lại sẽ là 122 x 1023. Giả thiết tiếp là tỷ lệ sống sót của ADN qua một tỷ năm tiến hóa chỉ là một phần tỷ, vậy hiện lúc này phải còn 122 x 1014, tức 12.200.000.000.000.000 ADN trong tự nhiên. Có vấn đề gì với con số này? Vấn đề là ở chỗ, theo logic của thuyết tiến hóa, mỗi loài cần có một cấu trúc ADN riêng (vì thế loài này khác loài kia), vậy với 122 x 1014 dạng cấu trúc ADN còn tồn tại đến ngày nay, tổng số loài sinh vật hiện có cũng phải tương đương là 122 x 1014 . Song theo ước tính của các nhà tiến hóa luận, tổng số loài trên trái đất kể từ khi sự sống xuất hiện đến nay chỉ đạt con số khiêm tốn từ 2 đến 3 triệu loài, cả mấy tỷ lần nhỏ hơn số loài cần có. "Vậy - những người ủng hộ thuyết sáng tạo đặt câu hỏi - ADN là sản phẩm của quá trình kết hợp ngẫu nhiên các nguyên tố trong thiên nhiên hay do “Ai đó” sáng tạo nên theo một thiết kế định sẵn ?".

 

 

NEXT

 


What the world says about tin and khng
Fastest SFTP, FTP and FTPS Client on the Planet, GoFTP FREE