LÁ THƯ GỞI CHO PHI LÊ MÔN
HỌA PHÚC VÔ LƯỜNG
Đăng Cao
Phao-lô, kẻ tù của Đức Chúa Jêsus Christ, và Ti-mô-thê, anh em chúng ta, gởi cho Phi-lê-môn, là người rất yêu dấu và cùng làm việc với chúng ta, 2 cùng cho Áp-bi là người chị em, A-chíp, là bạn cùng đánh trận, lại cho Hội thánh nhóm họp trong nhà anh: 3 nguyền xin anh em được ân điển và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và bởi Đức Chúa Jêsus Christ! 4 Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời tôi, hằng ghi nhớ anh trong lời cầu nguyện, 5 vì nghe nói anh có lòng yêu thương và đức tin trong Đức Chúa Jêsus và cùng các thánh đồ. 6 Tôi cầu xin Ngài rằng đức tin đó, là đức tin chung cho chúng ta, được có hiệu nghiệm, khiến người ta biết ấy là vì Đấng Christ mà mọi điều lành được làm trong chúng ta. 7 Vả, hỡi anh, tôi đã được vui mừng yên ủi lắm bởi lòng yêu thương của anh, vì nhờ anh mà lòng các thánh đồ được yên ủi. 8 Vậy nên, dầu trong Đấng Christ, tôi có quyền truyền dạy anh việc nên làm, 9 song vì lòng yêu thương của anh, nên tôi nài xin thì hơn. Tôi, Phao-lô, đã già rồi, hiện nay lại vì Đức Chúa Jêsus Christ chịu tù nữa, 10 tôi vì con tôi đã sanh trong vòng xiềng xích, tức là Ô-nê-sim, mà nài xin anh; 11 ngày trước người không ích gì cho anh, nhưng bây giờ sẽ ích lắm, và cũng ích cho tôi nữa: tôi sai người về cùng anh, 12 người như lòng dạ tôi vậy.13 Tôi vốn muốn cầm người ở lại cùng tôi, đặng thế cho anh mà giúp việc tôi trong cơn vì Tin Lành chịu xiềng xích. 14 Nhưng tôi không muốn làm điều gì mà chưa được anh đồng ý, hầu cho điều lành anh sẽ làm chẳng phải bởi ép buộc, bèn là bởi lòng thành. 15 Vả, có lẽ người đã tạm xa cách anh, cốt để anh nhận lấy người mãi mãi, 16 không coi như tôi mọi nữa, nhưng coi hơn tôi mọi, coi như anh em yêu dấu, nhứt là yêu dấu cho tôi, huống chi cho anh, cả về phần xác, cả về phần trong Chúa nữa. 17 Vậy nếu anh coi tôi là bạn hữu anh, thì hãy nhận lấy người như chính mình tôi vậy. 18 Nhược bằng người có làm hại anh hoặc mắc nợ anh điều chi, thì hãy cứ kể cho tôi. 19 Tôi, Phao-lô, chính tay tôi viết điều nầy: sẽ trả cho anh, còn anh mắc nợ tôi về chính mình anh thì không nhắc đến. 20 Phải, hỡi anh em, ước chi tôi được nhận sự vui vẻ nầy bởi anh trong Chúa; anh hãy làm cho tôi được thỏa lòng trong Đấng Christ. 21 Tôi viết cho anh, đã tin chắc anh hay vâng lời, biết anh sẽ làm quá sự tôi nói đây. 22 Nhân thể hãy liệu sắm nhà trọ cho tôi, vì tôi mong rằng nhờ anh em cầu nguyện, sẽ được trở về cùng anh em. 23 Ê-pháp-ra, là bạn đồng tù trong Đức Chúa Jêsus Christ với tôi, có lời thăm anh, 24 Mác, A-ri-tạc, Đê-ma và Lu-ca, cùng là bạn cùng làm việc với tôi cũng vậy. 25 Nguyện xin ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ ở với tâm thần anh em.!-----------------------
Câu hỏi giúp vui: Trong Tân ước, sách nào ít chữ nhất ?
Kinh Thánh theo bản dịch tiếng Anh thì sách III Giăng có 219 chữ, 13 câu; II Giăng 245 chữ, 14 câu; Phi-lê-môn 335 chữ. 25 câu.
- Theo bản tiếng Viêt nam năm 1924 thì IIIGiăng 422 chữ; còn II Giăng chỉ có 381 chữ; còn Phi-lê-môn có 584 chữ .
Ai trong quý độc giả có đọc qua lá thư Phi-lê-môn này?
Ai đã nghe một bài giảng về lá thư này ?
Đây là một lá thư hoàn toàn cá nhân của Phao lô gởi cho cá nhân Phi-lê-môn.
LÁ THƯ HOÀN TOÀN CÁ NHÂN
Những lá thư cá nhân của Phao lô gởi cho Tít, cho Ti-mô-thê đều là những lá thư nói về những quan điểm thần học và dạy dỗ nhiều điều cho Hội Thánh và tín hữu. Lá thư cá nhân Phi-lê-môn không có những đặc điểm đó.
Câu hỏi là tại sao lá thư này được nằm trong phần Tân Ước và hoàn toàn không hề bị ai phản đối. Trong khi đó, chúng ta nên nhớ sách Khải Huyền, sách Hê-bơ-rơ, sách Gia-cơ đều bị nhiều học giả, giám mục phản đối.
NỘI DUNG: KHÔNG AI CÓ ÑUÛ TRI THỨC PHÁN XÉT
Tôi có đọc một số bài giảng về lá thư Phi-lê-môn này. Tất cả đều nói về sự tha thứ của người Cơ đốc nhân.
Phi-lê-môn là một biểu tượng của lòng tha thứ và được người đời sau ca tụng như một tấm gương. Tuy nhiên, tôi thấy một bài học khác. Đó là không ai có đủ khả năng tri thức để phán xét, để đánh giá, để kết luận một biến cố , một hiện tượng, một sự kiện đang xảy ra.
Ví như, nhìn ông Gióp giàu có, ai có thể nói rằng một ngày nào đó ông Gióp sẽ nghèo nàn khổ sở. Nhìn ông Giô sép bị bọn lái buôn mang qua Ai cập để bán làm nô lệ, ai có thể nói một ngày nào đó chính Giô sép này sẽ cứu đói dòng họ Gia cốp.
Trong CỔ HỌC TINH HOA có câu chuyện Họa Phúc Không Lường của Hoài Nam Tử như sau:
“Một ông lão ở gần cửa ải có con ngựa tự nhiên đi sang nước Hồ mất. Nước Hồ tức là Hung Nô ở phía Bắc nước Tàu. Người quen, kẻ thuộc đều đến hỏi thăm. Ông lão nói: “ Mất ngựa là phúc cho tôi đấy! biết đâu” Cách mấy tháng sau, con ngựa về lại quyến thêm được một con ngựa hay nữa. Người quen kẻ thuộc lại đến mừng rỡ. Ông lão nói: “Được ngựa thế mà họa cho tôi ! biết đâu !”
Từ khi được con ngựa hay, con ông lão thích cưỡi, chẳng may ngã què chân. Người quen kẻ thuộc đều đến hỏi thăm. Ông lão nói: “ Con què thế mà phúc cho tôi đấy! biết đâu !”
Cách một năm, có giặc Hồ. Nhà vua bắt lính đi đánh giặc. Quân lính mười người chết đến chín. Chỉ con ông lão, vì què chân không phải đi lính mà cha con vẫn có nhau.
Sau đây là lời bàn của Ôn Như Ngọc:
“ Họa phúc xoay vần, khó mà biết được. Trong cái phúc thường khi có cái họa nấp sẵn ở đấy. Trong cái họa thường khi có cái phúc nấp sẵn ở đấy. Cho nên, đối với cái họa phúc, ta không nên vội lấy việc chỉ có một thời mà quyết định cho là hay mãi hay dở mãi được. Ta chỉ nên, khi gặp phúc thì thao thủ cẩn thận, đừng có kiêu xa phóng túng may mà giữ được phúc lâu dài; khi gặp họa thì tu tỉnh lấy thân, đừng có ngã lòng, đừng có oán trách, may mà qua được họa lại gặp được phúc không chừng.”
CHUYỆN THỨ HAI
Lại có một chuyện của Úc Ly Tử như sau:
“ Một người nhà quê rải cỏ phơi ở chân giậu. Hôm sau ra vơ cỏ, nghe thấy tiếng kêu “tích-tích” lật lên xem thì bắt ngay một con chim trĩ . Anh ta thấy thế, lại cứ để cỏ ở đấy, có ý mong ngày mai lại được con trĩ nữa. Ngày mai đi ra, lắng tai nghe, lại thấy tiếng “tích-tích” như hôm trước, trong bụng mừng thầm. Nhưng vừa bới cỏ lên, thì ra một con rắn, nó cắn ngay vào tay, anh ta bị thương rồi chết.
Úc ly Tử bàn rằng: “ Một việc nhỏ ấy đủ làm gương cho ta. Trong thiên hạ có cái phúc không tưởng được thế, mà may mắn được thì cũng có cái họa không ngờ đến thế mà xảy ra.”
Việc may rủi người ta không thể lường trước được. Trong cái may, biết đâu mà chẳng có cái không may; trong cái không may biết đâu rằng không có cái may? Cũng một việc, bận trước ta chẳng may bận sau lại may hay bận trước may mà bận sau lại chẳng may, như người này trước gặp chim trĩ có lợi, sau lại gặp rắn mà chết. Chúng ta nên nhớ rằng: Tham thì thâm, đã đắc ý một lần, không nên lại đến nữa. Không những không được như lần trước mà còn bị khinh dễ khổ nhục nữa.
TRÁI BIẾT ĐIỀU THIỆN VÀ ĐIỀU ÁC
Trong sách Sáng Thế ký, câu chuyện trái cây biết điều thiện và điều ác dạy chúng ta bài học rằng tri thức về điều tốt , điều xấu là độc dược của con người. Chúng ta không có cái tri thức hay khả năng quyết định bản chất chủ yếu của thực thể tốt xấu. Cái cuối cùng của phúc hay họa nằm ngoài trí óc của con người. Hai câu chuyện trong Cổ Học Tinh Hoa cho chúng ta thấy nó nằm ngoài khả năng nhận thức của con người.
Nghiên cứu lá thư của ông Phao-lô gởi cho ông Phi-lê-môn, chúng ta thấy nội dung cũng có cùng một cấu trúc như hai câu chuyện trong Cổ Học Tinh Hoa.
VÀI NHÂN VẬT TRONG LÁ THƯ
Đây là một lá thư cá nhân duy nhất của Phao lô mà người ta còn giữ được. Chắc chắn là Phao lô viết nhiều thư cá nhân, nhưng chỉ có lá thư này còn tồn tại..
Phi-lê-môn là một người tín hữu. Ông chắc giàu có và quyền lực vì có nhiều nô lệ . Nhà ông chắc rộng lớn nên cho Hội thánh nhóm họp.
Trong lá thư Phao-lô gởi lời hỏi thăm đến Áp-bi và A-chíp. Chúng ta không biết Áp-bi và A-chíp là ai, nhưng có lẽ Áp-bi là vợ và A-chíp là con trai của Phi-lê-môn. Họ là hai người quan tâm nhiều đến việc trở về của Ô-nê-sim. Phao lô gọi A-chíp là “ bạn cùng đánh trận” có thể hiểu A-chíp là một mục sư của một cộng đồng Cơ đốc nào đó. Danh tánh của A-chíp cũng được nhắc đến trong Cô-lô-se 4:17 “ Hãy nói với A-chíp rằng hãy cẩn thận về chức vụ . . . ”
Ô-NÊ-SIM TÊN NÔ LỆ TRỐN CHỦ
Ô-nê-sim là người nô lệ của Phi-lê-môn.
Ô-nê-sim trốn chủ bỏ đi và mang theo một số đồ của chủ. Phao lô viết cho Phi-lê -môn rằng :
“ Nhược bằng người có làm hại anh hoặc mắc nợ anh điều chi, thì hãy cứ kể cho tôi. Tôi, Phao-lô, chính tay tôi viết điều nầy: sẽ trả cho anh.”
Bằng cách nào đó, người nô lệ trốn chủ này đến La-mã, lẫn lộn vào các đường phố đông người và bằng cách nào đó, Ô-nê-sim tiếp xúc với Phao lô và trở nên Cơ Đốc nhân và được Phao lô nhận làm con.
* Ô-nê-sim giống như con ngựa của ông lão. Bỏ đi mất.
Ê-PHA-RÁT XUẤT HIỆN
Phao lô không thể che chở cho người nô lệ trốn chủ này lâu được. Có lẽ vấn đề trở nên nghiêm trọng khi Ê-phát-ra, bạn của Phi-lê-môn đến La mã thăm Phao lô và phát hiện ra Ô-nê-sim là người nô lệ của Phi-lê-môn. Cũng có thể với sự hiện diện của Ê-phát-ra mà Ô-nê-sim thú nhận với Phao lô tất cả dĩ vãng không xứng đáng của mình.
Ô-NÊ-SIM TRỞ THÀNH NGƯỜI HỮU DỤNG
Có điều là trong thời gian ở với Phao lô, Ô-nê-sim trở nên một con người hữu dụng đến độ Phao lô muốn giữ Ô-bê-sim lại bên ông. Câu 13 Phao lô viết :
“ Tôi vốn muốn cầm người ở lại cùng tôi, đặng thế cho anh mà giúp việc tôi trong cơn vì Tin Lành chịu xiềng xích.”
Phao lô còn viết thêm là ông sẽ không làm điều gì nếu không có sự đồng ý của Phi-lê-môn vì Ô-nê-sim là người nô lệ của ông ta.
NGUY HIỂM CHỜ ĐỢI TRƯỚC MẶT
Chắc chắn Phao lô biết sự nguy hiểm đang chờ đợi Ô-nê-sim. Thời đó, nô lệ không được xem như một con người. Nô lệ chỉ là một dụng cụ của chủ nhân. Chủ nhân có quyền sinh sát các nô lệ của mình. Chủ nhân có quyền đánh nô lệ, xiềng xích, đóng dấu trên trán nếu chúng ăn cắp hay bỏ trốn và cuối cùng chủ nhân có thể đóng đinh các nô lệ của mình.
Trong đế quốc La mã có khoảng 60 triệu nô lệ. Nguy cơ về sự nổi loạn luôn luôn được cảnh giác đề phòng cao độ. Một nô lệ chống đối chủ nhân liền bị trừ khữ ngay tức khắc, còn nô lệ bỏ trốn thì hình phạt nhẹ nhất là bị đóng dấu bằng thỏi sắt nung đỏ mang hình chữ F, chữ đầu của FUGITIVUS (Kẻ trốn chạy) còn hình phạt nặng nhất là bị đóng đinh.
Phao lô biết điều này và ông cũng biết chế độ nô lệ đã thấm nhập vào thế giới thời đó đến độ ai nấy đều thấy vấn đề nô lệ là một chuyện tự nhiên không cần thay đổi. Dĩ nhiên Phao lô biết Ô-nê-sim sẽ gặp nguy hiểm khi trở về trình diện Phi-lê-môn.
Vì vậy Phao lô gởi cho Phi-lê-môn lá thư cá nhân này. Đây là một lá thư thắm thiết tình yêu và khơi động tình yêu của một Cơ đốc nhân với một Cơ đốc Nhân. Lá thư này được viết trong lúc Phao lô ở trong tù và cho rằng mình đã già.
PHAO LÔ KHÔNG BIỆN HỘ CHO NHỮNG LỖI LẦM
Điều làm chúng ta chú ý là Phao lô không có lời biện hộ cho lỗi lầm trốn chủ và trộm đồ của chủ của Ô-nê-sim . Và ông công nhận một cách thẳng thắn rằng anh ta trước kia là vô dụng, không có giá trị. Nhưng rồi, sau thời gian khi Ô-nê-sim trở nên người của Chúa, câu 11 của lá thư được Phao lô viết :
“ Trước kia, Ô-nê-sim đối với anh thật là vô dụng. nhưng bây giờ khi nó trở về, nó là người hữu dụng cho anh và lẫn cho tôi.”
Ô-NÊ-SIM NGHĨA LÀ HỮU DỤNG
Điều cũng đáng chú ý là chữ Hy lạp “Ô-nê-sim” có nghĩa là có ích lợi. Đã có lần Ô-nê-sim là con người vô dụng nhưng nay anh ta đã hữu dụng. Bây giờ anh ta không phải chỉ là Ô-nê-sim như tên đặt mà bản chất cũng là Ô-nê-sim. Phi-lê-môn đã mất một người nô lệ vô dụng này một thời gian để rồi được lại một người nô lệ hữu dụng mãi mãi. Phi-lê-môn sẽ nhận anh ta không phải trong tư thế một người nô lệ mà như là một anh em trong Chúa. Phao lô muốn Phi-lê-môn tiếp nhận anh ta như tiếp nhận chính Phao lô vậy.
CƠ ĐỐC GIÁO TẠO NGƯỜI HỮU DỤNG
* Tương tự như con ngựa của ông lão bỏ đi bây giờ trở về mang theo lợi ích cho ông lão. Cơ đốc giáo có quyền năng biến một người vô dụng thành một người hữu dụng. Phao lô muốn công bố cho mọi người biết là Cơ đốc giáo không có mục đích sản xuất những con người vô dụng, không hiệu năng mà tạo ra những con người hữu dụng, những con người làm việc có lương tâm, có lòng và chăm chỉ siêng năng và đáng tin cậy. Có khi người ta nhận xét về một Cơ đốc nhân như sau: “ Người đó quá lo về thiên đàng đến nổi không quan tâm chi hết đến việc trần gian” Nhận xét đó không chính xác vì Cơ đốc nhân vừa hướng về thiên đàng vừa có ích lợi trên đất.
Ô-nê-sim quay về với một con người khác biệt. Lúc trốn đi , anh là một nô lệ ngoại đạo. khi trở về như một anh em trong Chúa Cứu Thế.
THẾ KHÓ CỦA HAI NGƯỜI
Nếu quyết định quay về trong tình thế nguy hiểm cho tương lai đối với Ô-nê-sim thì cũng thật khó cho Phi-lê-môn để xem một người nô lệ của mình, bỏ mình trốn đi , mang theo một số đồ vật trộm cắp như là một người anh em của mình. Nhưng Phao lô tha thiết yêu cầu cùng Phi-lê-môn rằng:
“ Nếu anh xem tôi như một người bạn đồng công trong công việc Chúa thì tôi xin anh nhận Ô-nê-sim theo cách anh tiếp nhận chính tôi”.
CƠ ĐỐC NHÂN HOAN NGHINH KẺ QUAY VỀ
Ở đây chúng ta tìm được một điều rất có ý nghĩa. Cơ đốc nhân luôn luôn hoan nghinh những người lầm lỗi trở về. Chúng ta thường nhìn một người lầm lỗi với cặp mắt nghi ngờ, tỏ ra không sẵn sàng tin tưởng vào người đó. Chúng ta có thể tin Chúa đã tha thứ cho anh ta nhưng về phần chúng ta chúng ta cảm thấy rất khó mà không có ác cảm hay tư tưởng xấu về người đó. Nên nhớ Chúa lúc nào cũng sẵn sàng tin cậy chúng ta ngay trong lúc chúng ta không xứng đáng. Ngài sẵn sàng giao cho chúng ta những công việc của Ngài dù Ngài biết chúng ta vừa phạm tội ngày hôm qua. Thông thường con đường quay về của một người phạm tội rất khó khăn. Chúng ta phải hết sức giúp đỡ, an ủi khuyến khích và tạo cơ hội hay hoàn cảnh thuận tiện để người muốn quay về dễ dàng hội nhập.
VAI TRÒ CỦA PHAO LÔ: TRẢ NỢ TIẾP Ô-NÊ-SIM
Một trong cách giúp Ô-nê-sin trở về với chủ nhân Phi-lê-môn là Phao lô hứa sẽ thanh toán những thiệt hại hay mắc nợ của Ô-nê-sim.
Câu 18-19 : “ Nhược bằng người có làm hại anh hoặc mắc nợ anh điều chi, thì hãy cứ kể cho tôi. 19 Tôi, Phao-lô, chính tay tôi viết điều nầy: sẽ trả cho anh”
CÓ NỢ PHẢI TRẢ, CÓ TỘI PHẢI NHẬN HẬU QUẢ
Một trong những nguyên tắc của nếp sống Cơ đốc là con người phải trả giá cho tội lỗi của mình. Chúa có thể và sẵn sàng tha thứ nhưng Ngài sẽ không giải thoát con ngươì khỏi hậu quả của những gì mình làm. Chính Chúa Jesus đã gánh tội lỗi và đền trả hậu quả của nó là sự chết vì vậy những người sống trong tình yêu của Chúa cũng chuẫn bị để giúp đỡ, gánh thay những hậu quả do sai lầm, vấp phạm của người anh em thân yêu trong Chúa. Cơ đốc giáo không bao giờ cho phép người nào có quyền không hoàn trả nợ.
Ô-nê-sim khi chạy trốn chủ chắc chắn đã trộm tài sản của Phi-lê-môn. Nếu anh không trộm tiền của chủ thì thật khó mà hiểu được làm thế nào anh ta có thể đi một quảng đường quá xa để đến La-mã. Phao lô dùng lá thư này, do chính tay ông viết ông sẽ chịu trách nhiệm hoàn trả đầy đủ những mất mát thiệt hại này.
PHAO LÔ CÓ TÀI SẢN
Ở đây tôi muốn đưa ra một nhận xét về việc Phao lô có thể và sẵn sàng trả nợ cho Ô-nê-sim. Đọc một vài chỗ trong Kinh Thánh, chúng ta hiểu lờ mờ rằng hình như Phao lô là người có tài sản.
- Tổng đốc Phê-lít đã giữ ông trong ngục với hy vọng Phao lô sẽ hối lộ cho rồi sẽ thả ra. Phê-lít hẳn biết Phao lô có khả năng tài chánh để có thể hối lộ. Công vụ 24:26 : “Đồng thời Phê-lít cũng mong Phao lô đút lót cho mình nên thường đòi ông đến nói chuyện.”
- Phao lô có thể thuê nhà trong thời gian bị tù ở La-mã, Công vụ 28:30 : “Phao lô ở tại nhà trọ suốt hai năm, tiếp đón tất cả những người đến thăm.”
Chúng ta có thể suy rằng nếu sứ đồ Phao lô không chọn con đường truyền giáo thì ông có thể sống một cuộc sống an nhàn, thoải mái bằng chính tài sản của mình. Nhưng Phao lô chọn con đường hầu việc, chấp nhận gian nan và tù tội. Ông gạt bỏ cuộc sống an nhàn vì ông chọn Chúa.
ĐẶC TÍNH TỐT CỦA PHAO LÔ
Qua câu 21, chúng ta thấy đặc tánh cố hữu của Phao lô là luôn luôn mong đợi những gì tốt nhất từ người khác. Ông không bao giờ nghi ngờ về việc Phi-lê-môn sẽ chấp thuận tất cả điều ông yêu cầu. Đây là một thái độ mà chúng ta cần noi theo.
Mong đợi sự tốt đẹp nhất từ người khác được xem như đã nhận được hơn nửa điều tốt nhất rồi. Nếu chúng ta nói rõ ràng chúng ta mong đợi ít thì chúng ta sẽ nhận được ít. Nhưng nếu chúng ta đưa người đó vào vị thế được sự kính trọng bằng cách tỏ cho họ biết chúng ta mong đợi nhiều nơi người thì tinh thần cao thượng đang ngủ trong con người sẽ thức dậy và chúng ta sẽ nhận được nhiều từ những người chúng ta mong đợi nhiều.
Câu 22 trong lá thư gởi cho Phi-lê-môn chúng ta thấy hai điều quan trọng:
1. Phao lô tin cậy vào sự cầu nguyện của các bạn hữu , ông sẽ được trả tự do và trở về với anh em.
2. Chúng ta thấy Phao lô thay đổi ý định của ông.
Trước đây, Phao lô có ý định đi đến Tây Ban Nha ( Ro-ma 15: 24,28 ) bây giờ ông muốn trở về với anh em tại Lao-đi-xê. Có thể sau nhiều năm tù, hai năm ở Sê-sa-rê, hai năm khác ở La-mã, Phao lô thấy mình đã lớn tuổi , nên để lại những nơi xa xôi cho những người trẻ hơn, còn phần ông khi những ngày cuối cùng hầu gần thì việc gần gũi với bạn bè cũ là điều tốt nhất.
PHI-LÊ-MÔN Ở ĐÂU ?
Bây giờ tôi muốn chuyển qua một khía cạnh khác . Đó là Phi-lê-môn ở đâu?
Kinh thánh không cho chúng ta biết điều này. Tuy nhiên, nếu chúng ta biết A-chíp, con trai của Phi-lê-môn, bạn cùng đánh trận của Phao lô, ở đâu thì chúng ta có thể đoán nơi ở của Phi-lê-môn.
Đọc lá thư gởi cho Phi-lê-môn và lá thư gởi cho Hội Thánh Cô-lô-se, chúng ta thấy Phao lô đều nhắc đến các nhân vật giống nhau: Ô-nê-sim, A-ri-tạc, Mác, Lu-ca, Ê-pháp-ra, A-chíp. Cho nên thoạt đầu, chúng ta nghĩ rằng Phi-lê-môn ở tại Cô-lô-se. Tuy nhiên, nhận xét này có thể không chính xác vì trong lá thư gởi cho Hội Thánh Cô-lô-se, Phao lô viết : “ Xin nhắn nhủ A-chíp rằng hãy cẩn thận về chức vụ đã lãnh từ nơi Chúa”.
Nếu A-chíp, một mục sư ở tại Cô-lô-se thì tại sao Phao lô bảo phải nhắn lại với A-chíp. Do đó, có một số học giả cho rằng A-chíp có thể ở Lao-đi-xê vì lá thư gởi cho Hội Thánh Cô-lô-se này sẽ được đọc tại Lao-đi-xê nữa và có thể A-chíp là mục sư tại đây. Như vậy Phi-lê-môn ở tại Lao-đi-xê.
PHI-LÊ-MÔN KHÓ TỪ CHỐI
Trong câu 13 và 14, Phao lô nói rõ ông rất muốn giữ Ô-nê-sim lại với ông và ông nhắc Phi-lê-môn còn mắc nợ ông và ông viết thêm : “xin giúp tôi được hưởng niềm vui vẻ này trong Chúa” và “ tôi tin tưởng rằng anh sẽ làm hơn điều tôi yêu cầu nữa.”
Có thể nào Phi-lê-môn từ chối lời yêu cầu này không? Phi-lê-môn thật khó mà từ chối và Ô-nê-sim trở lại cùng Phao lô. Học giả Goodspeed tin rằng Ô-nê-sim trở nên người giúp việc của Phao lô và hợp tác trong việc rao giảng Phúc âm.
NĂM MƯƠI NĂM SAU
Năm mươi năm sau, Ignatius, một trong những người tuẫn đạo quan trọng đã bị đem từ Hội thánh của ông ở An-ti-ốt đến La-mã để bị xử tử. Khi đi, ông viết một số thư gởi cho các Hội Thánh ở Tiểu Á, những lá thư này vẫn còn tồn tại. Ông dừng lại ở Si-miệc-nơ và viết thư cho Hội Thánh Ê-phê-sô. Trong đoạn đầu của bức thư này, ông nói nhiều về vị giám mục quý mến của họ. Vị giám mục này là ai? Đó là Ô-nê-sim. Ignatius cũng nói giống như Phao lô là Ô-nê-sim theo tên đặt và cũng Ô-nê-sim theo bản tính, người ích lợi cho Chúa Cứu Thế. Người nô lệ trốn chủ năm xưa đã trở thành Ô-nê-sim giám mục vĩ đại ở Ê-phê-sô.
Chính vì Ô-nê-sim là giám mục ở Ê-phê-sô nên người ta có thể giải thích tại sao một lá thư ngắn, gởi cho một cá nhân Phi-lê-môn được góp mặt trong bộ sưu tầm thư tín của Phao lô và nằm trong bộ Tân Ước. Bộ sưu tầm này đầu tiên được thực hiện tại Ê-phê-sô vào lúc Ô-nê-sim làm giám mục ở đây.
Ông để lá thư Phi-lê-môn vào bộ sưu tầm vì nó nói lên sự ân sủng của Chúa đã làm cho ông. Qua lá thư này, vị giám mục này muốn cho thế giới thấy đã có lần ông là một nô lệ trốn chủ, một tên trộm và ông mắc nợ sự sống với Phao lô và Chúa Cứu Thế. Qua lá thư này, ông nói đến sự xấu xa của mình để chính điều đó làm gia tăng sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
KHÔNG CẦN QUÊN QUÁ KHỨ
Bài học của chúng ta qua câu chuyện này rất nhiều nhưng tôi muốn nhắc thêm rằng quá khứ không thể quên hay bỏ qua một cách dứt khoát được. Cơ đốc giáo không bảo chúng ta bỏ quên dỉ vãng hay bỏ qua bên cạnh để tiến bước. Một Cơ đốc nhân thật có thể đối diện với quá khứ, điều chỉnh, sửa sai và tiến hành cuộc sống theo một chiều hướng mới tốt đẹp hơn.
PHÚC HỌA VÔ LƯỜNG
- Nếu Ô-nê-sim không bỏ trốn, anh ta sẽ không bao giờ gặp được Phao lô.
- Nếu Phao lô không xem Ô-nê-sim như con dân của Chúa mà như một nô lệ thì Ô-nê-sim sẽ không biến đổi thành một Cơ đốc nhân và Ô-nê-sim sẽ không quay về để đối diện với chủ cũ của mình và Ô-nê-sim sẽ không bao giờ được tự do và trở nên một Giám mục vĩ đại thời đó.
Chúng ta thấy Phúc Hoạ qua câu chuyện này thật vô lường như câu chuyện Tái Ông Thất Mã. Chúng ta không có trí thức đủ để có thể đưa ra sự phán xét sau cùng trên một câu chuyện, trên một biến cố đang xảy ra.trong đời sống của chúng ta.
Chúng ta không đủ khả năng để ăn trái biết điều thiện và điều ác. Trái cây đó không phải là thức ăn của chúng ta. Sự khôn ngoan của ông lão, người đã nói :” biết đâu đó là phúc, biết đâu đó là họa” thật phù hợp cho nhân gian..
Giô-sép là người bị các anh hại đã nói với họ rằng : “Các anh định hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại dùng điều đó để làm có ích cho tôi để tôi cứu sống được nhiều người” Sáng 50:20.
Quá sớm để có thể kết luận cho bất cứ biến cố nào xảy ra chung quanh chúng ta hay cho chính chúng ta. Nhưng không quá sớm để chúng ta sống trong hy vọng, trong niềm tin. Đức Chúa Trời là Đấng mầu nhiệm, đáng tin cậy. Ngài luôn luôn làm điều phước lành cho con cái Ngài.
Ngài yêu thương chúng ta và muốn chúng ta phước hạnh.
Đó là Tin lành mà chúng ta cần mang đến cho người đồng hương.
CƯỜI CHÚT CHƠI
HỌC TIẾNG DO THÁI.
Câu chuyện xảy ra khi Nga còn dưới chế độ Cộng Sản. Một ông già ngồi trên ghế đá tại một công viên ở Mốt Cu, đang học văn phạm tiếng Hebrew thì một nhân viên KGB đi qua. Tên công an nhìn ông lão, rồi hỏi:
- Ông đọc sách gì mà chữ nghĩa kỳ cục vậy?
- Đây là chữ Hebrew của người Do Thái.
- Ông già rồi, làm gì còn cơ hội đến nước Do Thái nữa, học tiếng xứ này làm gì?
Ông già đáp:
- Lạy chúa, ông nói đúng. Tuy nhiên khi tôi lên Thiên Đàng thì ở đấy cũng nói tiếng Do Thái vậy.
Tên công an cười khẩy hỏi:
- Tại sao ông biết sẽ lên Thiên Đàng? Có thể ông xuống địa ngục thì sao?
Ông già thủng thẳng đáp:
- Cũng không sao! Vì tôi đã biết nói tiếng Nga rồi!
|