|
CÁI HỘP GIẤY Tinh Thần |
Một câu chuyện thật CÁI HỘP GIẦY Lời tòa soạn: Chúng tôi cho đăng bài phỏng dịch này do Mục sư Mike Trout kể lại trong chương trình phát thanh “ Focus On The Family” tạm dịch là “ Quan tâm đến Gia đình”. Ðây là một câu chuyện thật rất cảm động về một thiếu niên hư hỏng trở thành một nhà truyền giáo. Paul Powers đã trải qua một ngày rất vất vả, đầy những chuyện phải lo lắng, bận rộn. Trời đã khuya, mặt trăng vẫn chiếu sáng trong đêm trường tĩnh mịch, ngọn gió lạnh từ bắc Gia Nã Ðại vẫn rét buốt ngoài kia. Paul còn ngồi trên chiếc ghế mà ông thích. “Ðây là một đêm đẹp và bình an” Paul nghĩ thầm. Nó khác hẳn với những vất vả mà ông phải đương đầu lúc ban ngày. Ông đứng lên, vói tay lấy cái hộp đựng giầøy cũ để trên kệ. Cái hộp đã quá cũ, lâu ngày rách nhiều chỗ và đã trở thành màu vàng. Giấy vàng kim gói cái hộp cũng rách và nhăn nhúm. Ông cẩn thận mở cái hộp và nhìn bên trong một cách thật trìu mến. Cầm cái hộp trong tay, ông thầm cầu nguyện. Cái hộp này đối với ông Paul Powers thật đặc biệt, bất khả thay thế. Cái kho tàng bên trong cái hộp thật quý báu hơn tất cả những món vật mà ông đang có. Ông không thể lượng giá nó bằng tiền. Mỗi lần ông nhìn thấy cái hộp này, nước mắt ông tự nhiên trào ra và nó giúp ông thay đổi nếp sống. Ðó là một lần ông không thể nào quên được vì ông biết rằng Chúa muốn ông phải nhớ để thay đổi và kể lại câu chuyện này. Ông đã dùng ký ức này và kinh nghiệm của mình để rao truyền lời Chúa đến những người mà ai cũng cho rằng họ gần như không thể nghe và không thể chấp nhận Phúc âm của Chúa. Paul đã dùng gần hết thì giờ của ông để giảng Tin lành cho các thiếu niên. Ông và vợ ông, bà Marge đã đi khắp thế giới, bốn mươi tuần lễ trong một năm để gặp các thiếu niên hư hỏng, kéo chúngï đến gần với Chúa. Hai ông bà đã dùng mọi cách như đồ chơi, phim ảnh, nhạc để đến gần các em. Có nhiều em thuộc phạm nhân hình sự, hút sách, mồ côi và sẵn sàng trốn trại trừng giới. Cho đến bây giờ, ông chưa tìm ra một em nào có thể hơn cuộc đời thiếu niên của ông. Ông đã từng bị thù nghịch, ghét bỏ, đánh đập và cay đắng hơn mọi hoàn cảnh mà chúng ta được nghe kể lại. Ðể cái hộp trở lại kệ, ông đóng cửa sổ, tắt đèn và bước lên giường để nghỉ. Ông sẵn sàng chờ đợi một ngày mai đầy thử thách và bận rộn. Paul nhớ lại ông được sinh ra trong một gia đình hạnh phúc. Ít nhất cho đến khi ông có sự hiểu biết. Là đứa con thứ năm trong gia đình có sáu người con, ông sinh vào ngày 22 tháng 10 năm 1936. Mẹ ông là Christina và cha ông là Albert Powers tại một làng nhỏ tên là Sarnia thuộc tiểu bang Ontario, Canada. Ông nhớ lại những ngày vui vẻ, hạnh phúc khi ông chơi trò chơi với các anh chị em mình và với những đứa bạn hàng xóm. Gia đình ông nghèo. Sau nhà ông là nơi đổ rác của thành phố và những toa xe lửa bị phế thải. Ðó là giây phút thật khủng khiếp cho một đứa bé bảy tuổi. Nó tự hỏi: - Sao cha nó có thể để cho xảy ra như vậy? Làm sao cha nó để mẹ nó nằm chết xỉu trong tuyết qua một đêm trường? Làm sao cha nó có thể ung dung ngồi uống ruợu khi mẹ nó nằm chết trên giường chỉ cách ông có vài tấc đất ? Hoàn cảnh cay nghiệt đó đã làm cho đứa bé bảy tuổi đi vào ngõ rẽ của cuộc đời. “ Tôi chạy lại cha tôi, lắc mạnh ông và lớn tiếng với ông. Kế đó tôi thấy tôi nằm trên sàn nhà, chân ông đạp trên người tôi, mắng nhiếc tôi, đá vào tôi và đánh tôi. Khi bác sĩ đỡ tôi lên, tôi nín khóc và thở hổn hển. Mặt tôi sưng, và tôi chỉ còn một con mắt để nhìn thấy. Tôi bị đánh gãy xương mũi, gãy cái răng cửa và gãy một xương sườn. Tôi được đưa vào bịnh viện cùng một chiếc xe cứu thương với xác của mẹ tôi.” Ðó là lần đầu tiên trong chuỗi ngày kế tiếp mà Paul bị cha mình hành hạ. Cái chết của mẹ ông hình như làm cho cha ông càng dễ trở nên nóng giận hơn. Trước đây ông không thấy cha ông nóng giận như vậy. Tình thế càng ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Chỉ tám tháng sau, cha ông cưới vợ khác. Bà là người đàn bà lối xóm và là một khách làng chơi có hai đứa con riêng. Bây giờ có tám đứa ở trong nhà và đa số đều trên lứa tuổi 12. Gia đình của ông bây giờ không còn là một gia đình theo đúng nghĩa của nó và không có một trật tự nào cả. Thời gian trôi qua, sự đánh đập càng gia tăng và càng trầm trọng. Khi Paul được tám tuổi, Paul gia nhập vào băng du đãng trong xóm và bắt đầu đi ăn trộm trong các nhà và các tiệm. Hai người chị đã thành gái mãi dâm và đã sống riêng. Các người khác cũng lần lượt bỏ nhà . Ðứa thì sống trong tù hay trong trại trừng giới dành cho thiếu niên phạm pháp. Ðứa khác vào Hải quân và đứa sống với cha mẹ nuôi theo lịnh của tòa. Paul sống không ai giúp đỡ và không còn sự chọn lựa nào khác. Sống cô đơn trên một căn phòng nhỏ trên gác nhà. Mỗi lần về nhà hay đi đâu, Paul dùng cửa sổ trên gác. Paul là một đứa trẻ thích bạo động. Những cuộc đánh lộn, những vết thương trên mình nó khiến cho người ta không nghĩ rằng nó có thể sống sót được mười tuổi. Cha nó dạy nó một triết lý của cuộc sống: “Phải chiến đấu tranh dành cho cái gì mầy muốn và khi mầy chưa được, mầy phải chiến đấu mạnh hơn. Cứ lấy cắp nếu mầy thấy có thể. Chỉ cần là đừng để bị bắt mà thôi.” Ðối với cha nó, ăn cắp để bị bắt mới là có tội còn ăn cắp mà không bị bắt thì đồng nghĩa là vô tội. Khi được 12 tuổi, Paul đã trở thành tay ăn cắp nhà nghề. Nó ăn cắp một cây súng và bắt đầu mang theo khi hành nghề. Có một lần, nó ăn cắp một túi vải của một người đàn bà. Bà này trông thấy nó, bà tiến về phía nó. Nó rút súng ra và ra lịnh cho bà phải đi nơi khác. Nó nghĩ rằng bà ta sẽ sợ cây súng của nó. Tuy nhiên bà vẫn tiếp tục tiến về nó. Nó sợ quá và nó nghe tiếng súng nổ, người đàn bà té xuống đất, cây súng cũng rớt xuống đất. Nó lượm cây súng lên và bỏ chạy trốn suốt đêm đó. Nó chạy đến bờ sông, ném khẩu súng và chạy ra khỏi thành phố và quá giang xe đến London cũng thuộc tiểu bang Ontario. Nó trốn và ẩn mình trong một hốc nhỏ trong một rạp hát. Mấy tháng trời, nó sống một kiếp người lang thang, khi ở trên xe lửa, khi ngủ trong những hộp giấy trong các hẻm nghèo. Ba tháng sau, người đàn bà bị bắn chết trong bịnh viện. Không bao lâu cảnh sát bắt đầu truy tầm nó và sau cùng đã bắt nó. Nó bị gởi vào trại giam thiếu niên tại đó nó được đưa vào trường cải tạo. Nó bị kết án có tám tháng nhưng vì hạnh kiểm xấu nên nó ở trong trại cải tạo cho đến khi nó được 17 tuổi mới được phóng thích. Nó nhớ lại ngày nó ra tòa để được xử phóng thích, nó thấy cha nó ngồi bên cạnh viên chức quản chế. Lần đầu tiên nó thấy cha nó kể từ ngày nó giết người. “ Cha tôi ngồi tại cái bàn gần quan tòa. Quan tòa hỏi ba tôi: Ông Powers có sự chọn lựa. Tôi sẽ gởi con ông trở lại trường Cải tạo, tôi có thể gởi nó đến một nông trại hoặc giao nó lại cho ông để ông chỉ dạy nó. Ông muốn như thế nào ? Cha tôi nhìn quan tòa trả lời : Ông gởi nó vào địa ngục đi. Nó đâu dòm ngó đến tôi đâu!” Lúc 17 tuổi, Paul là một con người không ai muốn có. Paul sống trong sự giận dữ, không tình thương. Chính quyền đã mệt mỏi khi muốn sửa đổi nó, các bạn bè cũng bỏ rơi nó. Anh chị cũng không ai quan tâm tới sự sống chết của nó. Cha của nó cũng không muốn thấy sự hiện diện của nó trên thế gian này. Quan tòa thất vọng nhưng vẫn phóng thích nó. Nó nghe viên chức quản chế nói trong phiên tòa nói rằng: “ thằng này sẽ khó sống đến 21 tuổi”. Ðó là năm 1952. Không viên chức nào giúp nó tìm công việc làm và tìm người bảo trợ nó. Thật đơn giản vì có ai muốn nuôi hay mướn một đứa trẻ với một lý lịch trộm cắp giết người như Paul. Dưới tình yêu của Chúa và với sự ngạc nhiên của mọi người, Paul tìm ra người muốn tiếp nhận nó và sẵn sàng giúp nó tìm việc làm. “ Tôi đi đến làng Franford, một thị trấn nhỏ với độ một ngàn dân. Tôi đến một căn nhà và gỏ cửa. Khi tôi bước vào trong nhà, tôi thấy một người đàn bà nhỏ thó đang ngồi trên ghế đu . Bà đến gần tôi và mời tôi dùng trà. Người ta gọi bà là mẹ Adams. Chồng bà cao, lớn con và ai ai cũng gọi ông là Cha Adams. Mẹ và cha Adams không giống những người mà Paul đã gặp trước đây. Hai ông bà rất kiên cường trước tác phong xấu của Paul và quyết tâm giúp Paul làm lại cuộc đời. Bà Adams nói rằng: “Chúa muốn chúng tôi nhận cậu trẻ tuổi này vào nhà để giúp đỡ. Chúng tôi không để ý đến quá khứ. Hãy nhìn về tương lai”. Dầu cho Paul ương ngạnh đến mức độ nào, dù cho Paul từ chối tình yêu của họ, dù cho Paul cay đắng trước sự tử tế của họ, họ vẫn tiếp tục chăm sóc và yêu thương Paul. Họ cầu nguyện cho Paul mỗi ngày. Họ xin Chúa thay đổi con người của Paul và ban cho họ đủ kiên nhẫn để chịu đựng mọi khó khăn do Paul gây ra. Họ cố gắng thuyết phục một người bạn cho Paul một công việc làm trong một hãng đóng giầy. Thời gian sau, Paul nhận một công việc bán giầy trong một tiệm bán lẻ cũng thuộc công ty đó. Sau đó không lâu, Paul bị bắt về tội ăn cắp tiền và bị đuổi. Mẹ Adams vẫn không chán nản, bà thuyết phục người bạn mướn Paul trở lại. Trước đây, Paul biết nhiều người tin Chúa nhưng họ không có lối sống theo đức tin giống như mẹ và cha Adams này. Paul cũng học theo cha mình rằng các Cơ đốc nhân là những người yếu đuối, rụt rè. Paul không bao giờ muốn như vậy nên nó không bao giờ chú ý đến họ. Nhưng qua cha mẹ nuôi này, Paul thấy khác hẳn. Họ rất kiên cường và Chúa hình như lúc nào cũng hiện diện trong đời sống của họ. Paul chống lại Chúa nhưng không thể nào chống lại tấm lòng tử tế của cha mẹ nuôi được. “ Tôi bắt đầu thương họ. Họ không bao giờ để tôi thất vọng. Trong khi người ta kéo tôi xuống thì cha mẹ nuôi tôi đỡ tôi đứng dậy. Họ luôn luôn binh vực và biện hộ cho tôi ”. Ðầu tiên trong cuộc đời, Paul thấy được cái gì là tình yêu không điều kiện. Dù cho Paul có lỗi lầm, có thất bại, có xấu xa, hai ông bà Adams không bao giờ xoay lưng với Paul. Vì tò mò, một hôm Paul đồng ý đi nhà thờ với cha mẹ nuôi và Paul muốn trở lại tuần sau và tuần sau nữa. Paul chỉ muốn quan sát và không có ý định nào gọi là quan trọng cả. Cho đến khi Paul quen với cô Anne. Anne là một Cơ đốc nhân và cũng làm trong xưởng giầy với Paul. Paul để ý đến Anne trong ngày gặp đầu tiên. “ Anne rất đẹp. Cô có tóc vàng và cặp mắt xanh. Tôi quyết định tấn công nhưng hình như tôi không là cái gì đối với cô ta” Paul tâm sự như vậy. Cho đến một ngày, Anne gọi điện thoại cho tôi “ Paul, anh có muốn đi chơi với tôi tối Thứ Bảy này không?” Tôi ngạc nhiên vô cùng trả lời : “ Tôi rất sẵn sàng nếu không phải là đi nhà thờ !” “ Ồ! không phải đi nhà thờ đâu, chúng ta sẽ đi Belleville để xem ci nê và nghe nhạc”. Paul tưởng tượng đến ngày Thứ Bảy sẽ xem movie và nhảy đầm, uống rượu với Anne nên Paul rất ngạc nhiên khi họ đến chỗ đậu xe của nhà thờ Masonic. Bên trong người ta đang chuẩn bị chiếu phim. Paul và Anne ngồi ở hàng ghế thứ nhì. Ðó là đêm đầu tiên của chương trình bồi linh cho Thanh niên Cơ đốc và cuốn phim tựa đề là “ Seventeen” ( Mười Bảy). Nội dung nói về những thiếu niên lứa tuổi 17, uống ruợu, đua xe. Một tai nạn xảy ra và một đứa trong nhóm bị tử nạn. Thông điệp của cuốn phim là “ Các bạn nên làm gì với cuộc đời của mình?”. Paul về nhà ám ảnh bởi cuốn phim. Paul nhớ lại, có lần Paul đua xe và khi chạm vào chiếc xe khác làm người lái chiếc xe kia mất thăng bằng bị nạn và đã chết y như cuốn phim vừa xem. Lúc đó mẹ Adams của anh cố binh vực cho anh và cầu nguyện không ngừng cho anh. Paul bị khủng hoảng bởi cuốn phim. “ Nếu những gì họ nói là đúng thì sao? nếu thực sự có Chúa thì sao? ” Paul chưa thể thuyết phục được mình nhưng cuốn phim đã bắt đầu làm cho anh ta chú ý. Ðêm sau, Paul đồng ý đi với Anne trở lại tham dự buổi thảo luận . Người điều khiển buổi họp đọc một đoạn trong sách Mác 7:21-22: “ Vì thật là tự trong người, tự lòng người mà sanh ra những ác tưởng, dâm dục , trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng.” Lần đầu tiên, Paul nghe người ta đọc một danh sách về những thói xấu của mình một cách công khai và chính xác như vậy. Paul kể lại rằng: “ Tôi ngồi ở đàng sau với Anne, vị giáo sĩ tiếp tục nói: Anh biết nói láo là cái gì không? Ăn cắp là cái gì không? Rồi ông ta chỉ vào tôi. Tôi tin rằng Anne đã nói tất cả những sự xấu xa của tôi cho ông ta biết trước. Tôi tức giận vô cùng và bắt đầu mắng chưởi Anne. Tôi sắp sửa đánh Anne thì một hướng dẫn viên đến chận tay tôi và kéo tôi ra ngoài .” Ðó là một đêm dài nhất trong đời của Paul. Paul lái xe chạy quanh thành phố hàng mấy giờ. Paul định tìm vài bạn để uống ruợu giải sầu nhưng không tìm được ai cả. Gần sáng, Paul về nhà. Thông điệp của diễn giả vẫn còn trong đầu của Paul. Paul kể lại “ Tôi bước lên phòng của tôi. Tôi bắt đầu chửi mọi người kể cả cha mẹ nuôi và cô bạn gái của tôi, tôi chửi tôi và chửi Chúa. Tôi đứng trong phòng và tôi khóc. “ Chúa đã làm gì cho tôi để cuộc đời tôi nên nông nỗi này? Rồi tôi nghe văng vẳng câu nói của người diễn giả: “ Chúa đã gởi con Ngài xuống thế gian để chết thay cho tôi”. Tôi nhớ câu chuyện một tên trộm cùng chết với Chúa trên cây thập tự. Nó không ăn năn và không ai có thể giúp nó. Tôi nhìn ra cửa sổ, nhìn nhà ga xe lửa cũ kỹ. Ðàng xa là ngọn đồi với những cột trụ điện và các dây điện dăng bắt thành hình những thập tự sừng sửng trên đồi xa xa. Trăng tháng Mười vẫn tròn sáng dịu dàng càng làm nổi bật các cột điện hình thập tự. Tôi chợp khám phá tại sao cha mẹ nuôi Adams có một đời sống tốt lành như vậy. Tôi đã cố sống tốt đẹp, tôi muốn tránh xa những đau khổ của cuộc đời, tôi không muốn phải tiếp tục xấu hổ về mình. Tôi muốn làm một con người mới. Tôi nhớ đêm đó tôi khóc nức nở và không thể cầm lại được . Tôi không bao giờ khóc từ năm 7 tuổi sau lần bị cha tôi đánh đến nỗi phải vào bịnh viện. Bây giờ tôi đã 21 tuổi. Tôi nằm trên giường và kêu gào:“Chúa ơi! Nếu Ngài thực sự thương tôi, xin hãy thương tôi. Tôi không có được một người thương tôi từ ngày mẹ tôi qua đời”. Tôi khóc một hồi rồi ngủ thiếp đi trong lời van nài thảm thiết đó .” Tối hôm đó Thánh Linh đã đến ngự trong lòng của Paul Powers. Trong buổi điểm tâm sáng hôm sau, cha mẹ nuôi Adams thấy có sự thay đổi trong con người của Paul. Cha Adams nói:“ Ê ! có chuyện gì vậy hả Paul? Có phải con đã tỏ tình với con Anne đêm qua không?” Paul mỉm cười không nói. Mẹ nuôi Adams vừa trở chiếc bánh đang nướng trong lò xong, nhìn vào mắt của Paul, rồi bà phấn khởi reo lên: “Ông ơi! Ông không thấy gì sao? Thằng Paul đã có Chúa trong lòng nó rồi. Nó đã được tái sanh rồi !” bà chạy đến tôi cười và ôm tôi vào lòng. Cha nuôi cũng đến ôm tôi. Tôi nhớ mãi nụ cười thỏa lòng của mẹ nuôi tôi. Chúng tôi không cần ăn sáng nữa, mở Kinh Thánh ra đọc rồi cùng nhau cầu nguyện. Tôi cầu xin Chúa tiếp tục yêu thương tôi.” Paul trở lại buổi họp của Thanh Niên. Paul đến gặp ban Tổ chức để xin lổi thái độ của Paul trong đêm qua và xin được tiếp tục tham dự các buổi họp kế tiếp. Họ rất vui vẻ và tặng Paul quyển Kinh Thánh đầu tiên. Một vài người trong nhóm khám phá rằng Paul không biết đọc. Paul chỉ học đến lớp Ba và cả tuổi trẻ là chạy rong chơi ngoài đường phố, hoặc trong trại trừng giới thiếu nhi. Paul không có nhận thức rằng biết đọc là điều cần thiết trong đời sống. Paul không bao giờ nghĩ rằng sự dốt nát là một vấn đề. Paul có thể đọc các bảng tên đường và các tên tiệm. Bây giờ, đọc Kinh Thánh là cả một khó khăn không thể vượt qua bằng cách đọc mặt chữ các bảng tên đường hay tên tiệm. Các bạn tổ chức lớp học đọc ban đêm cho Paul và Paul phải mất hai năm để trau giồi khả năng đọc của mình. Các bạn trẻ trong nhóm đặc biệt chú ý đến Paul. Paul bắt đầu đi chung với nhóm mới này với công việc là sắp xếp ghế trong hội trường, chuẩn bị máy chiếu phim. Vài năm sau, Paul được chọn làm trưởng nhóm. Cuối tháng Tám năm 1964, khi Paul được 29 tuổi và làm việc trong tiệm sách Cơ đốc ở Toronto, anh gặp cô gái Cơ đốc đẹp tên là Marge. Paul kể lại: “ Lúc đầu Marge không muốn có liên hệ với tôi nhưng theo thời gian với sự kiên trì đeo đuổi của tôi, Marge có vẻ bớt nghiêm khắc với tôi. Ðến ngày 9 tháng Mười năm đó, hai chúng tôi bắt đầu nói đến hôn sự. Khi biết quá khứ của tôi, Marge rất ngại ngùng. Ðó là điều dễ hiểu. Marge lo lắng không biết cha mẹ cô sẽ nghĩ thế nào về sự kết hợp này. Paul kiên nhẫn đợi chờ. Thời gian trôi qua, một lần tham dự trại Thanh niên nhân lễ Tạ ơn ở Kingston, Ontario, Paul đứng lên làm chứng về cuộc đời của mình. Sau đó hai người đi dạo trên bờ biển và Paul nhân lúc đó nhắc lại lời cầu hôn của mình. “ Marge lưu ý đến những vết chân của hai người trên bãi biển bị nước cuốn đi và rồi đây những lời nói thành khẩn của tôi về hôn nhân này cũng vậy, theo thời gian cũng sẽ bay trôi đi. Tôi hứa chắc với nàng rằng, tôi sẽ không để cho hôn nhân này thất bại rồi tôi bồng nàng lên và đi một đoạn ngắn trên bãi biển. Marge cười và muốn tôi để nàng xuống. Hai đứa nhìn lại thấy chỉ có một dấu chân trên cát. Tôi nói với Marge : “ Em nhẹ lắm, tôi có thể cưu mang em suốt đời. Dấu chân này là một lời hứa rằng tôi sẽ chăm sóc Marge khi nào Marge cần đến”. Cả hai ôm nhau và im lặng một lúc lâu. “ Ðây là những lúc mà chúng ta nên đặt lòng tin của mình vào Chúa”. Ðó là một bảo đảm mà Marge cần và nàng đồng ý lời cầu hôn của tôi. Tối hôm đó, Marge về phòng trọ ở Echo Lake Camp và viết một bài thơ mà Thánh Linh đã soi dẫn nàng. Bài thơ đó lúc đầu được Marge đặt tên là “ I have a Dream” ( Tôi có một ước mơ) nhưng được nhiều người biết đến qua một tên mới là “ Footsprints” (Những dấu chân đi) . Hầu hết mọi nhà Cơ đốc nhân đều có treo trên vách bài thơ này. Bài thơ nói về sự tin tưởng nơi Chúa vì Chúa sẽ cưu mang chúng ta khi chúng ta yếu đuối. Bài thơ viết về những dấu chân để lại trên bờ biển mà chúng ta cứ tưởng là dấu chân cô đơn của mình. Thật ra đó là dấu chân của Chúa khi Ngài mang chúng ta trên vai để đưa chúng ta qua khỏi những lúc khó khăn. Hai người cưới nhau vào ngày 10 tháng Bảy, 1965. Họ sống hạnh phúc bên nhau và cùng nhau vượt qua nhiều thử thách. Năm 1983, Paul khám phá ra bịnh tiểu đường và bị bốn lần động tim. Tài chánh rất là eo hẹp nhưng họ sống trong hạnh phúc. Họ có hai cô con gái. Tina đã lập gia đình và đứa em là Paula cũng lấy chồng năm 1996. Paul mất liên lạc với gia đình. Ông cầu nguyện mỗi ngày cho số phận của anh chị em của ông. Ông cố gắng nói về Phúc âm cho họ nhưng không ai chấp nhận. Vài người đã qua đời mà không chấp nhận Chúa. Ðó là một đau lòng nhất của Paul. Câu chuyện về cha của Paul thì khác. Paul cũng cố gắng giải thích về chương trình cứu chuộc của Chúa cho cha mình nghe nhưng ông ta vẫn im lặng. Ba ngày sau khi Paul trở thành một Cơ đốc nhân, Paul đã dùng điện thoại công cộng để làm chứng cho cha mình, nhưng cha Paul có những lời lẽ đối đáp khó nghe và cúp điện thoại. Paul nghĩ rằng Paul sẽ chôn cha mình như một người sẽ không bao giờ được cứu. Ở tuổi 70, sức khỏe của ông ta đã quá kém nhưng không có dấu hiệu gì để hy vọng cha của Paul có cơ may tin nhận Chúa. Rồi một ngày nọ, Paul nhận một cú điện thoại của cha mình. Ông đang ở tại Union Station ở Toronto là nơi Paul và gia đình đang ở. “ Tao đến đây để đổi chuyến xe lửa đi về miền Tây, tao điện thoại thăm mầy. Tao muốn gặp mầy nhưng tao chỉ có một tiếng đồng hồ nên có lẽ không đủ thì giờ ”. Paul cũng nghĩ như vậy nhưng có cái gì thúc đẩy trong lòng cho biết ông cần đến gặp cha mình. Paul biết cha mình dạo này sức khỏe kém lắm và sợ rằng đây là lần viếng thăm cuối cùng. Union Station cách nhà ông khoảng một giờ lái xe và Paul không chắc mình có đủ thì giờ đến đó gặp cha mình nhưng Paul biết rằng mình phải cố gắng. “ Cha đứng đó chờ con, con sẽ cố gắng đến đó để gặp cha”. Ông lái nhanh tối đa và đến đó trước ba phút chuyến xe lửa khởi hành. Hành khách đã vào toa xe và cổng đã đóng. Paul năn nỉ người gác cổng : “Tôi cần vào để gặp cha tôi. Cha tôi rất yếu, ổng bị bịnh tim và chúng tôi sẽ không biết chuyện gì có thể xảy ra. Tôi phải gặp cha tôi bất cứ giá nào”. Người gác cổng cho Paul vào với điều kiện: “ Nếu ông bị kẹt trên toa xe, ông phải trả tiền vé tàu”. Paul chạy lẹ làng, nhảy lên toa xe khi vừa kịp nhìn thấy cha mình. Paul không kịp nói gì vì chỉ còn 30 giây là chuyến tàu di chuyển. “ Cha tôi đứng lên chạy về hướng tôi và ôm choàng lấy tôi : “ Paul, cha thương con!” Ðây là lần đầu tiên trong cuộc đời Paul được nghe lời nói yêu thương đó từ miệng của cha mình. Hai ngày sau, Paul được tin cha mình qua đời trong sự bình an. Tháng sau, Paul khám phá biết cha mình đã tin Chúa được vài tháng trước khi cha con gặp nhau lần cuối cùng ở ga xe lửa. Kể từ đó, Paul hứa nguyện dâng cuộc đời còn lại để rao truyền lời Chúa cho thiếu niên. Hai vợ chồng đi khắp mọi nơi để gieo rắc lời Chúa. Paul tiếp tục kể lại cuộc đời của mình và mỗi lần kể Paul đều ứa nước mắt cho thân phận của mình và để cảm tạ những ơn lành mà Chúa ban cho ông và gia đình ông. Câu chuyện về cuộc đời của ông cũng làm rơi nước mắt biết bao nhiêu người nghe.
Câu chuyện của Paul Powers vẫn chưa kết thúc vì nó chưa nói đến chiếc hộp gói bằng giấy vàng kim mà ông nâng niu mỗi ngày. Vào tháng Chạp năm 1972, trước lễ Giáng sinh vài hôm, Tina, đứa con gái đầu lòng của Paul và Marge, vừa được 4 tuổi. Lúc đó, gia đình Paul sống bằng những chi phiếu gởi đến từ những nhà thờ mời ông đến diễn giảng. Ðặc biệt tháng Chạp này, không có chi phiếu nào gởi về để trả những chi phí thường xuyên. Giáng sinh gần kề mà gia đình Paul chỉ còn vài đồng bạc, vừa đủ để mua trứng, sữa và một vài món quà rẻ tiền cho trẻ con hàng xóm. Paul kể lại:” Tôi đưa số tiền cuối cùng đó cho vợ tôi và tôi dặn rằng: Em à, cẩn thận chi xài với số tiền này. Ðó là tất cả những gì chúng ta còn lại cho mùa Giáng sinh này” Rồi nàng đi chợ. Khi Marge trở về nhà, Paul phác giác Marge đã xài trọn một đô la để mua giấy gói quà màu vàng kim. Paul nổi giận, mặt tím bầm vì sự phí phạm này. “ Làm sao có thể xài trọn một đồng để mua giấy gói quà trong khi cả gia tài không hơn ba đồng?” Một lát sau, Paul thấy Tina ngồi trong phòng khách loay quay với giấy gói quà màu vàng kim với cái hộp giày và cuộn tape giá 39 cents. Paul nổi giận vì sự phí phạm này. “ Tôi túm lấy Tina, vật nó xuống nền nhà và tát vào mặt nó mấy cái”. Marge chết đứng ngạc nhiên và tôi cũng không ngờ tôi hung dữ với con mình như vậy”. Paul vội vàng bỏ đi nơi khác. Tina đau đớn, đứng lên, khóc và nét mặt trông thật sửng sốt bởi sự hung dữ của cha nó. Paul ăn năn về hành vi của mình. Paul biết mình đã vấp phạm lời hứa của mình với Chúa và với Marge. Giống như cha của Paul, tính hung dữ vẫn còn tồn tại trong con người của Paul. Gia đình tối hôm đó thật im lặng và mọi người đi ngủ trong sự trầm tư riêng. Sáng hôm sau, như truyền thống Giáng sinh, gia đình quây quần tặng quà cho nhau. Tina sốt sắng chạy đến cây Giáng sinh, lấy quà của nó, một hộp giày được gói bằng giấy vàng kim đem đến cho Paul. “ Tôi hỏi nó: Tina, món quà này cho ai vậy? Nó trả lời : Ðó là món quà cho cha!” Tôi mở hộp và không thấy quà trong đó. “Tina, sao trong hộp không có quà nào cả vậy ?” Nó nhìn lên và Paul thấy những giọt nước mắt long lanh trong mắt nó: “ Cha! hộp này đựng những cái hôn của con dành cho cha. Con đã hôn vào cái hộp trước khi cha đánh con. Cha! con thương cha lắm! ”. Vũ trụ gần như đứng im trong giây lát. Những người biết nhiều về Paul sẽ nói thêm rằng còn một thói xấu khác Paul chưa thể từ bỏ được. Ðó là tánh hay lén lút. Thật vậy, nếu chúng ta quan sát Paul thật cẩn thận, chúng ta sẽ thấy thỉnh thoảng, giữa đêm khuya, khi Marge đã lên giường, Paul lén lút đi xuống nhà đến kệ sách, lén lút lấy cái hộp giày có bọc giấy vàng kim và lén lút hôn một cái. Marge biết nhưng nàng giả vờ vì đó là một tật xấu đáng yêu của chồng mình.
|